ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là một bệnh rất thường gặp trong cộng đồng. Tỷ lệ người mắc tăng huyết áp ngày càng tăng và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ. Hơn 20% dân số trưởng thành ở Mỹ bị tăng huyết áp, dẫn đến khoảng 9,4 triệu trường hợp tử vong mỗi năm. Theo dự đoán, số người mắc tăng huyết áp sẽ tăng lên 1,56 tỷ người vào năm 2025.
Năm 2014, Tổ chức Y tế thế giới công bố tỷ lệ chung trên toàn thế giới là 22%, có xu hướng tăng ở các nước đang phát triển. Các yếu tố nguy cơ của lối sống như lười vận động, chế độ ăn không hợp lý với quá nhiều chất béo, ăn mặn, hút thuốc lá. là những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng gánh nặng này [52]. Ngay tại Việt Nam, thống kê năm 2015 cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn là 47,3% [39].
Tăng huyết áp đã và đang trở thành nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch. Vào năm 2002, Tổ chức Y Tế thế giới đã ghi nhận trong báo cáo sức khỏe hàng năm và liệt kê tăng huyết áp là "kẻ giết người số 1". Nguy cơ tử vong sẽ tăng gấp đôi khi số huyết áp tăng mỗi 20mmHg đối với huyết áp tâm thu và tăng 10mmHg đối với huyết áp tâm trương. Nghiên cứu của Fisher trên hàng ngàn mẫu giải phẫu bệnh trong các trường hợp tai biến mạch máu não đã nhận thấy: tăng huyết áp thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch não nói chung, đặc biệt gây xơ vữa và hẹp hệ thống động mạch nền sọ [27].
Hiện nay, có nhiều phương pháp đánh giá tình trạng mạch máu não, được kể đến như siêu âm doppler đánh giá tình trạng động mạch cảnh đoạn ngoài sọ, điện não đồ và lưu huyết não đồ đánh giá tình trạng tuần hoàn trong sọ. Lưu huyết não đồ là một phương pháp thăm dò chức năng nhằm đánh giá tình trạng tuần hoàn não đơn giản và không nguy hiểm cho người bệnh. Phương pháp này phản ánh trung thành tình trạng mạch máu não và dung 2 lượng máu được đưa tới nuôi dưỡng các khu vực não. Lưu huyết não có giá trị chẩn đoán nhiều bệnh lý của não như: bệnh lý của tim ảnh hưởng tới nuôi dưỡng não, cơn tăng huyết áp não và bệnh lý mạch máu não.
Lưu huyết não giúp phát hiện sớm tình trạng xơ vữa động mạch ở các giai đoạn, đặc biệt có giá trị ở giai đoạn sớm, khi chưa có biểu hiện lâm sàng; xác định được tình trạng thiểu dưỡng não ở các mức độ; đánh giá kết quả điều trị các thuốc giãn mạch, hạ áp và tăng cường nuôi dưỡng não, kể cả các phương pháp tập luyện [32]. Việc phát hiện sớm những biến chứng cơ quan đích, đặc biệt là biến chứng mạch máu não là cần thiết góp phần tiên lượng bệnh và lựa chọn chiến lược điều trị, dự phòng ở bệnh nhân tăng huyết áp. Tuy vậy, ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về tình trạng lưu huyết não trên bệnh nhân tăng huyết áp. Vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng lƣu huyết não trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại bệnh viện trƣờng Đại học Y dƣợc Cần Thơ năm 2017-2018” với 2 mục tiêu sau: - Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đặc điểm lưu huyết não trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2017-2018.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng bất thường lưu huyết não trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2017-2018. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization – WHO) và Hội Tăng huyết áp quốc tế (International Society of Hypertension - ISH) đã thống nhất gọi là tăng huyết áp (THA) khi HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATr ≥ 90mmHg. Con số này có được là do dựa trên những nghiên cứu lớn về dịch tễ cho thấy [57]: - Có sự gia tăng đặc biệt nguy cơ tai biến mạch máu não ở người lớn có trị số huyết áp ≥ 140/90mmHg.
- Tỷ lệ tai biến mạch máu não ở người có số huyết áp < 140/90mmHg giảm rõ rệt. Nguyên nhân - Tăng huyết áp nguyên phát: chiếm tới 90-95% số người bị THA, là dạng không tìm được nguyên nhân, được xem là bệnh đa yếu tố, trong đó có sự tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường như ăn mặn, béo phì, uống rượu, stress, tuổi, giới, chủng tộc, thuốc lá, bất dung nạp glucose [24]. - Tăng huyết áp thứ phát: dưới 5-10% các trường hợp THA có nguyên nhân. Các nguyên nhân chính của THA thứ phát gồm các bệnh về thận như bệnh thận do đái tháo đường (ĐTĐ), bệnh thận đa nang; bệnh nội tiết như hội chứng Cushing hay u thượng thận tiết nhiều aldosterol; bệnh tim mạch như hẹp eo động mạch (ĐM) chủ, hẹp nơi xuất phát ĐM thận; do thuốc (các hormon ngừa thai, corticoid, cyclosporin,…) và nhiễm độc thai nghén [24].
Phân độ Phân độ tăng huyết áp này áp dụng cho người THA không có dùng thuốc chống THA và không có bệnh cấp tính. Khi HATT và HATTr ở độ khác nhau 4 thì xếp vào độ cao nhất [57]. - Theo JNC VII (The Seventh Report of the Joint National Committee) năm 2003 cách phân độ như sau: Bảng 1. Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII [45] Phân loại HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Bình thường < 120 < 80 Tiền tăng huyết áp 120-139 80-89 Tăng huyết áp độ 1 140-159 90-99 Tăng huyết áp độ 2 ≥ 160 ≥ 100 - Theo WHO/ISH năm 2003 và Khuyến cáo Hội Tim Mạch Học Việt Nam năm 2015 đã đưa ra cách phân độ như sau: Bảng 1.
Phân độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (2003) [57] Phân loại HATT (mmHg) HATTr (mmHg) HA tối ưu < 120 < 80 HA bình thường 120-129 80-84 HA bình thường cao 130-139 85-89 THA độ 1 (nhẹ) 140-159 90-99 THA độ 2 (trung bình) 160-179 100-109 THA độ 3 (nặng) ≥ 180 ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 < 90 Trong thực tiễn ứng dụng hiện nay, cách phân loại theo WHO/ISH tỏ ra thực tiễn hơn và Hội Tim Mạch Học Việt Nam (2015) vẫn khuyến cáo dùng cách phân loại này [18]. Triệu chứng lâm sàng - Các triệu chứng do THA gây ra: nhức đầu, chóng mặt, hồi hộp, dễ mệt và bất lực. Nhức đầu thường xảy ra khi có THA nặng, thường nhức đầu ở vùng chẩm, sau gáy và thường vào buổi sáng [4]. - Các triệu chứng do bệnh mạch máu của THA: chảy máu mũi, tiểu máu, 5 mờ mắt, chóng mặt do thiếu máu não thoáng qua, đau thắt ngực, khó thở do suy tim, đau do bóc tách hoặc do phình động mạch chủ [4].
- Các triệu chứng do bệnh căn gây ra THA: uống nhiều, tiểu nhiều, yếu cơ do hạ kali máu ở bệnh nhân cường aldosterol tiên phát hoặc tăng cân, dễ xúc động ở bệnh nhân bị hội chứng Cushing [4], [36]. Cận lâm sàng Xét nghiệm cận lâm sàng nhằm mục đích đánh giá các yếu tố nguy cơ (YTNC) của THA, tìm dấu hiệu THA thứ phát, cũng như xác định THA đã có tổn thương cơ quan đích hay chưa. Bệnh nhân THA trẻ tuổi, bệnh nhân có trị số HA cao hay THA tiến triển nhanh là những đối tượng cần được thăm dò cận lâm sàng kỹ càng nhất [12]. Các xét nghiệm cận lâm sàng cơ bản bao gồm: protein niệu và công thức máu, creatinin huyết thanh (đánh giá mức lọc cầu thận), điện giải đồ, đường huyết và lipid máu lúc đói, điện tâm đồ.
Nhìn chung, không cần làm thêm các xét nghiệm khác, trừ khi việc kiểm soát HA gặp trở ngại hoặc nghi ngờ THA thứ phát. Siêu âm tim có thể có giá trị trong đánh giá chức năng tim ở bệnh nhân có các triệu chứng tim mạch. Tóm lại, các chỉ định cận lâm sàng sẽ được định hướng bởi các triệu chứng lâm sàng ở từng bệnh nhân cụ thể, nhằm phát hiện hoặc loại trừ các nguyên nhân có thể của THA thứ phát [36]. Tim Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và nguyên nhân gây tử vong cao nhất đối với THA.
Tăng gánh thất trái là biến chứng sớm do dày cơ tim trái, dẫn đến suy tim trái sau đó chuyển sang suy tim toàn bộ [12]. Não Hai biến chứng chính trên não của THA là nhồi máu não và xuất huyết não. Biểu hiện khác xảy ra do THA là cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua 6 gây tổn thương thần kinh khu trú, hồi phục hoàn toàn trong 24 giờ [35]. Khi bị THA, não bị thiếu máu, vì vậy có phản ứng tăng lưu lượng máu não (> 50ml máu/100g tổ chức não).
Khi bị thiếu máu não sẽ gây ra các triệu chứng: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ,… Ghi lưu huyết não thấy có giảm dòng máu lưu thông từng vùng. Ghi điện não thấy có rối loạn hoạt động điện não [41]. Thận - Xơ vữa động mạch thận sớm và nhanh. - Xơ mạch thận gây tình trạng suy thận dần dần.
- Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính. - Ở giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và angiotensin II tăng gây cường aldosteron thứ phát [12], [36]. Mắt Theo Keith – Wagener Barker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt [4] - Giai đoạn 1: tiểu động mạch cứng và bóng. - Giai đoạn 2: tiểu động mạch hẹp có dấu bắt chéo (dấu Gunn).
- Giai đoạn 3: xuất huyết và xuất tiết võng mạc. - Giai đoạn 4: phù lan tỏa gai thị. Yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp 1. Yếu tố nguy cơ không thay đổi được - Tuổi.
- Yếu tố gia đình: người có tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch sớm (nam trước 55 và nữ trước 65 tuổi) sẽ có nguy cơ bị bệnh tim mạch cao hơn những người khác. Yếu tố di truyền bao gồm cả về chủng tộc: người da đen có tỷ lệ THA cao, nặng và khó điều trị hơn so với các chủng tộc khác [38]. Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được 7 - Rối loạn lipid máu. - Hút thuốc lá: hút thuốc làm nhịp tim tăng lên, lưu lượng tim tăng, động mạch bị co lại, làm THA [16].
- Thừa cân, béo phì: dễ bị THA hơn, đặc biệt là béo phì trung tâm có nguy cơ rối loạn dung nạp glucose và kháng insulin rất cao [13]. - Ăn mặn: ăn 6-10 gram muối mỗi ngày có tỷ lệ THA cao hơn so với những người ăn nhạt hơn. Tuy vậy vẫn có tỷ lệ những người ăn nhạt vẫn bị THA.