ĐẶT VẤN ĐỀ Suy giáp là “tình trạng giảm chức năng tuyến giáp dẫn đến sự thiếu hụt tổng hợp và giải phóng hoóc môn tuyến giáp” (1). Hoóc môn tuyến giáp là hoóc môn cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển tế bào thần kinh, sinh sản và điều hòa chuyển hóa năng lượng của cơ thể (2). Vì vậy, nếu không được điều trị, thiếu hoóc môn tuyến giáp có thể tác động nghiêm trọng đến sức khỏe và dẫn đến tử vong. Do khác biệt lớn trong đánh giá lâm sàng và không có triệu chứng đặc hiệu, suy giáp được xác định chủ yếu thông qua các xét nghiệm sinh hóa (3).
Các bệnh tuyến giáp là một bệnh phổ biến với khoảng 200 triệu người trên thế giới có mắc bệnh tuyến giáp (4). Ở các nước có thu nhập cao, tỷ lệ suy giáp qua xét nghiệm cận lâm sàng xấp xỉ 8% ở nữ và 3% ở nam (2). Suy giáp cũng là một hội chứng phổ biến của bệnh lý tuyến giáp nói chung, đứng hàng thứ ba sau cường giáp và bướu cổ đơn thuần (5). Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc suy giáp rõ dao động từ 0,1% đến 2% (1).
Tỷ lệ mắc các bệnh lý tuyến giáp cao hơn khoảng 3 lần ở nữ giới so với nam giới và tỷ lệ mắc cũng tăng dần theo độ tuổi (6). Tuy vậy, hơn 50% người bệnh (NB) tuyến giáp không được chẩn đoán do triệu chứng bệnh không đặc trưng và dễ bị nhầm với các bệnh lý khác (6). Tại Việt Nam (1). Không tuân thủ điều trị (TTĐT) là một trong những rào cản lớn nhất cho kết quả điều trị bệnh suy giáp.
Điều trị bệnh suy giáp giúp NB bình giáp và duy trì tình trạng ổn định thường xuyên, lâu dài đồng thời dự phòng và điều trị các biến chứng do suy giáp (1). Không tuân thủ điều trị thuốc ở NB suy giáp có làm giảm kết quả điều trị lâm sàng và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe (7). NB suy giáp cần được theo dõi do việc điều trị thường kéo dài cả đời. Việc tuân thủ đúng, đủ liều, đều đặn, tích cực thay đổi lối sống như chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ dinh dưỡng và các yếu tố vi lượng,… giúp kiểm soát, duy trì bình giáp thường xuyên.
Duy trì được tình trạng bình giáp thường xuyên sẽ giúp cho NB vẫn làm việc bình thường, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật với bản thân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên trên thực tế, việc TTĐT của NB đã và đang là một vấn đề mà cả NB và những nhà quản 2 lý y tế cần phải quan tâm. Dù phương pháp điều trị rất đơn giản nhưung tỷ lệ TTĐT của NB suy giáp nhìn chung là thấp với tỷ lệ dao động từ 22% đến 82% ở các nghiên cứu trên thế giới (8-10). Tại Việt Nam, hiện chưa có báo cáo về tỷ lệ TTĐT ở NB suy giáp.
Các nghiên cứu về các bệnh không lây cho tỷ lệ TTĐT thấp như TTĐT của NB đái tháo đường là 14,2% (11) hay của NB tăng huyết áp là 25% (12). Việt Nam hiện nay đã có các chương trình quản lý bệnh không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,… Tuy nhiên, chưa có chương trình quản lý quốc gia nào với NB suy giáp. Bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh Phú Thọ là Bệnh viện tuyến cao nhất của tỉnh Phú Thọ, được xếp loại BV hạng I với quy mô 1500 giường bệnh, tổng số cán bộ viên chức trên 1670 cán bộ, trong đó có 468 bác sĩ (13). Hiện tại, BVĐK tỉnh đang điều trị cho khoảng gần 1000 NB suy giáp ngoại trú tại Khoa Nội tiết.
Trong khi việc điều trị cho NB suy giáp thông thường kéo dài và có thể trong suốt cuộc đời, hiện chưa có nghiên cứu nào về quản lý TTĐT của bệnh nhân suy giáp tại BVĐK tỉnh Phú Thọ. Để có những can thiệp phù hợp với tình hình hiện nay, cần phải nắm rõ được thực trạng việc quản lý TTĐT bệnh suy giáp hiện nay như thế nào? Còn thiếu sót ở phần nào? Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng tuân thủ điều trị của NB suy giáp và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của NB suy giáp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của NB suy giáp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính của luận văn 1. Khái niệm Suy giáp Suy giáp là hội chứng đặc trưng bởi “tình trạng giảm chức năng tuyến giáp dẫn đến sự thiếu hụt tổng hợp và giải phóng hoóc môn tuyến giáp” (1).
Thiếu hoóc môn tuyến giáp có thể gây nên tổn thương ở các mô, cơ quan và rối loạn chuyển hóa trên lâm sàng và xét nghiệm. Khái niệm Tuân thủ điều trị Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa tuân thủ điều trị (adherence) là “mức độ hành vi của NB trong việc thực hiện đúng các khuyến cáo đã được thống nhất giữa họ và nhân viên y tế (NVYT) về việc sử dụng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống” (14). Morisky cũng đưa ra định nghĩa về TTĐT là: “Tuân thủ là mức độ hành vi của bệnh nhân đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng, và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng với khuyến cáo của nhân viên y tế” (15). TTĐT được hiểu bắt đầu từ khi tiến hành điều trị thông qua thực hiện đầy đủ chế độ được kê toa, chế độ ăn kiêng và thay đổi lối sống theo khuyến cáo của NVYT.
Định nghĩa nhấn mạnh việc NB nên được tích cực tham gia cùng với nhân viên y tế (NVYT) trong việc chăm sóc sức khỏe của chính họ. Từ đó, NVYT có thể tối ưu hóa việc sử dụng thuốc trên từng cá thể và đồng thời giúp cải thiện tính tuân thủ, nâng cao hiệu quả điều trị và giảm chi phí cho NB. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trên những NB mắc các bệnh mạn tính và có lộ trình điều trị kéo dài như bệnh suy giáp, đái tháo đường và tăng huyết áp. Đặc điểm bệnh học của suy giáp 1.
Phân loại bệnh suy giáp Phân loại bệnh nguyên có nhiều loại, nhiều tài liệu phân loại bệnh nguyên suy 5 giáp chia thành 6 nhóm chính gồm suy giáp tiên phát có tuyến giáp to, suy giáp không có tuyến giáp to, suy giáp thoáng qua sau viêm tuyến giáp, suy giáp mắc phải do tuyến giáp bị phá hủy, suy giáp nguồn gốc trung ương. Suy giáp tiên phát có tuyến giáp to Suy giáp mắc phải do các nguyên nhân bao gồm viêm tuyến giáp Hashimoto (viêm tuyến giáp tự miễn typ 2A), thiếu hụt iod (bướu cổ địa phương), dùng một số thuốc có tác dụng ức chế tổng hợp hoặc giải phóng thyroxin (lithium, ethionamid, sulfamid, iod), yếu tố sinh u trong thực phẩm hoặc do ô nhiễm môi trường, các cytokin (interferon α, interleukin 2) và tuyến giáp thâm nhiễm (amyloidosis, sarcoidosis, cyetinosis, scleroderma). Suy giáp bẩm sinh: Khiếm khuyết vận chuyển và huy động iod (NIS hoặc đột biến pendrin), thiếu hụt bẩm sinh enzym tham gia tổng hợp hormon tuyến giáp (iodotyrosin dehalogenase), thiếu hụt hoặc rối loạn chức năng thyroglobulin và khiếm khuyết tổng hợp hoặc huy động thyroglobulin 1. Suy giáp không có tuyến giáp to Suy giáp mắc phải: Bệnh tuyến giáp Hashimoto (viêm tuyến giáp tự miễn typ 2B) và Sau điều trị bằng phóng xạ, phẫu thuật tuyến giáp hoặc xạ trị bệnh ác tính ngoài tuyến giáp 1.
Triệu chứng lâm sàng của suy giáp Bệnh cảnh lâm sàng đặc trưng là bệnh phù niêm – myxedema, thường gặp ở phụ nữ lứa tuổi 40-50 tuổi. Các triệu chứng xuất hiện từ từ, không rầm rộ, dễ nhầm với các triệu chứng của giai đoạn mãn kinh. Lâm sàng của suy giáp ở NB myxedema có tính chất hệ thống, tổn thương nhiều cơ quan. Tổn thương da, niêm mạc Đây là dấu hiệu đặc trưng nhất của bệnh myxedema với các triệu chứng Thay đổi bộ mặt: mặt tròn như mặt trăng, nhiều nếp nhăn, bộ mặt già trước so với tuổi, thờ ơ, ít biểu lộ tình cảm.
6 Phù mi mắt, nhất là mi dưới, trông như mọng nước. Gò má tím và nhiều mao mạch bị giãn, môi dày và tím tái. Bàn chân, tay: dày, ngón tay to, khó gập lại, da lạnh, gan bàn chân, bàn tay có màu vàng (xanthoderma). Niêm mạc lưỡi bị thâm nhiễm làm lưỡi to ra, dây thanh âm hay bị thâm nhiễm nên thường nói khàn.
Niêm mạc vòi Eustache bị thâm nhiễm gây ù tai, nghe kém. Phù niêm mạc mũi nên khi ngủ hay ngáy to. Da, lông tóc móng: phù cứng, da khô dễ bong vảy, tóc khô dễ gãy rụng, lông nách, lông mu rụng thưa thớt, móng chân, móng tay mủn, dễ gãy. Triệu chứng giảm chuyển hóa (hypometabolism) Triệu chứng này là hậu quả của sự thiếu hụt hormon tuyến giáp.
Có thể coi đây là dấu hiệu soi gương của nhiễm độc giáp. Rối loạn điều hòa thân nhiệt biểu hiện bằng cảm giác sợ rét, thân nhiệt giảm, chân tay lạnh và khô. Rối loạn điều tiết nước: uống ít nước, đi tiểu ít, bài tiết rất chậm sau khi uống nước. Thường tăng cân tuy ăn uống kém.
Triệu chứng tim mạch Nhịp tim thường chậm <60 chu kì/ phút, huyết áp thấp chủ yếu là huyết áp tâm thu, tốc độ tuần hoàn giảm. Có thể có cơn đau thắt ngực hoặc suy tim với tim to. Tràn dịch màng tim với các mức độ khác nhau có khi không kèm theo suy tim. Xét nghiệm dịch màng tim có nhiều protein và cholesterol.
Biến đổi trên điện tim: điện thế thấp, ST chênh xuống, sóng T dẹt hoặc âm. Rối loạn thần kinh - tinh thần - cơ NB thường mệt mỏi, li bì, trạng thái vô cảm, thờ ơ. Thường có sự suy 7 giảm các hoạt động thể chất, trí óc và sinh dục. Da khô do giảm tiết mồ hôi.
Rối loạn thần kinh tự động biểu hiện bằng táo bón kéo dài, có thể kèm với giảm nhu động ruột. Tổn thương cơ với biểu hiện yếu cơ, đau cơ, co cơ không tự nhiên, chuột rút. Biến đổi tại các tuyến nội tiết Tuyến giáp có thể to hoặc bình thường tùy thuộc nguyên nhân gây suy giáp. Ở NB nữ có thể rong kinh, rối loạn kinh nguyệt kèm chảy sữa, giảm hoặc mất khả năng sinh hoạt tình dục.
Có thể có biểu hiện suy chức năng tuyến thượng thận. Chẩn đoán suy giáp Do thiếu độ đặc hiệu của các biểu hiện lâm sàng điển hình, chẩn đoán suy giáp chủ yếu dựa vào các xét nghiệm.