Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA CÁC MÀNG BỌC THAI Ở nửa sau của thai kỳ, trong tử cung có 4 màng: màng ối, màng đệm, màng rụng trứng và màng rụng tử cung nhưng thực tế chỉ còn 3 màng do màng rụng trứng và màng rụng tử cung sát nhập với nhau tạo thành màng bọc thai [14],[17]. Màng rụng là màng ngoài nhất của màng bào thai, do lớp niêm mạc tử cung biến thành sau một thời gian ngắn khi thai làm tổ ở buồng tử cung [22]. Màng đệm là màng ở giữa, cấu tạo bởi chất sợi trong suốt và bóng, rất bền chắc.
Màng đệm dính với màng rụng và rất dễ tách khỏi màng ối. Ở lỗ cổ tử cung, màng tiếp xúc thẳng với nút niêm dịch bít kín lỗ cổ tử cung [3]. Màng ối là màng mỏng, trong suốt, bóng, dai, dễ thấm nước, không có mạch máu và thần kinh. Màng ối lót ở mặt trong buồng ối, che phủ lên bánh nhau và dây rốn [3],[17].
SINH LÝ CỦA NƯỚC ỐI 1. Nguồn gốc tạo thành nước ối Nước ối xuất hiện ngày thứ 12 sau khi thụ tinh. Lúc đó, buồng ối nằm độc lập trong mầm phôi, chứa dịch kẽ của phôi. Từ ngày thứ 12 đến ngày 28 sau thụ tinh, tuần hoàn nhau thai được thành lập, có sự thẩm thấu giữa tuần hoàn và nước ối.
Sau đó, nước ối được tạo thành từ 3 nguồn gốc: do thai bài tiết, từ màng ối và từ máu mẹ [3],[17]. - Do thai bài tiết: + Da thai: tham gia tạo nước ối nhờ tính thẩm thấu. Khoảng tuần thứ 20 đến 28 của thai kỳ, khi chất gây xuất hiện thì đường này mới chấm dứt. 4 + Thận thai: đây là nguồn gốc quan trọng nhất.
Thận của thai nhi bắt đầu bài tiết nước tiểu khi thai được 11 tuần tuổi. Sau tuần thứ 16 của thai kỳ thì phần lớn dịch ối tùy thuộc vào lượng nước tiểu của thai nhi sản xuất ra [9]. + Dây rốn: là nơi diễn ra trao đổi nước và chất giữa dịch ối và khoảng ngoài bào thai của thai. Hiện tượng này diễn ra từ tuần thứ 18.
+ Khí phế quản: xuất hiện hiện tượng huyết tương của thai nhi thẩm thấu qua niêm mạc hô hấp từ tuần thứ 20 [3],[14],[17]. - Màng ối: là màng bán thấm, lượng nước trao đổi qua đây khoảng 1800 ml/giờ. Vận chuyển dịch ối qua màng diễn ra thụ động, dòng nước đi từ buồng ối vào cơ thể mẹ chiếm ưu thế hơn [14]. - Máu của mẹ: khi tiêm một chất vào hệ tuần hoàn mẹ, sau đó sẽ tìm thấy sự hiện diện của nó trong nước ối.
Điều này chứng tỏ có 1 sự trao đổi qua màng ối những chất giữa máu mẹ và nước ối [3]. Đặc điểm nước ối Thể tích nước ối thay đổi từ 50 ml ở thai 1 - 2 tháng đến 1000 ml lúc thai 38 tuần. Sau đó thể tích nước ối giảm dần còn khoảng 800 ml vào tuần thứ 40 của thai kỳ. Nước ối màu trắng trong ở ba tháng đầu của thai kỳ, trở nên hơi đục hơn vào gần cuối của thai kỳ.
Nước ối hơi nhớt và hơi tanh. Có tỷ trọng khoảng 1,006 và pH hơi kiềm, thay đổi trong khoảng từ 7,1 đến 7,3 ở cuối thai kỳ [3],[14],[17]. Chức năng của nước ối - Trong thai kỳ: + Nước ối nuôi dưỡng phôi thai ngay từ đầu thai kỳ [3],[22]. + Nước ối còn là chỗ bài tiết, đào thải của thai nhi (nước tiểu của thai được bài tiết thường xuyên vào khoang ối, phân su được bài tiết trong một số trường hợp đặc biệt) [14].
5 + Nước ối giúp duy trì thân nhiệt của thai trong tử cung. Nhiệt độ của thai hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ của mẹ thông qua nước ối. Mỗi khi mẹ bị sốt, thai cũng bị tăng thân nhiệt theo và thai hoàn toàn không có khả năng tự thải bớt nhiệt [14]. + Nước ối bảo vệ cho thai tránh khỏi những va chạm, sang chấn, nhiễm trùng [3],[9],[17].
+ Nước ối còn có tác dụng kìm hãm vi khuẩn phát triển. Đặc tính này thay đổi theo đặc tính của thai. Khả năng kháng vi khuẩn xuất hiện sau tuần thứ 20, tăng dần lên và đạt tối đa khi thai đủ tháng. Màng ối còn nguyên vẹn là một đảm bảo cho sự vô trùng trong bọc ối [14].
+ Về mặt cơ học, nước ối tạo môi trường cho thai phát triển hài hòa và bình chỉnh tốt vào những tháng cuối của thai kỳ [3],[17]. - Trong lúc chuyển dạ: nước ối tiếp tục bảo vệ thai nhi khỏi những sang chấn và nhiễm trùng. Sự thành lập đầu ối tạo thuận lợi cho sự xóa mở cổ tử cung. Sau khi ối vỡ, tính nhờn của nước ối làm trơn đường sinh dục giúp thai sổ dễ dàng hơn [3],[17].
ĐỊNH NGHĨA ỐI VỠ NON Ối vỡ non là ối vỡ trước khi có chuyển dạ [2],[8],[20]. Nếu một giờ sau khi ối vỡ mà chuyển dạ vẫn chưa tự khởi phát thì được gọi là ối vỡ non [4],[20]. Theo bình diện thời gian thì ối vỡ non được định nghĩa so với thời điểm bắt đầu chuyển dạ mà không liên quan đến tuổi thai [4]. CƠ CHẾ ỐI VỠ NON 1.
Nhiễm trùng Cơ chế nhiễm trùng gây ra ối vỡ non là do nhiễm khuẩn ngược dòng từ bộ phận sinh dục làm cho màng ối dễ vỡ do men vi khuẩn kích thích tại chỗ 6 tiết ra prostaglandin gây nên cơn co tử cung và màng ối mất tính chun dãn do thâm nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính [21],[33]. Sự căng cơ học Trong các trường hợp như đa thai, đa ối gây tăng áp suất trong buồng tử cung ảnh hưởng đến việc xuất hiện nhiều cytokine màng ối dẫn đến tăng sản xuất protease. NGUYÊN NHÂN - YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA ỐI VỠ NON 1. Nguyên nhân của ối vỡ non Thai gần trưởng thành, các màng thai tại lỗ trong cổ tử cung bị suy yếu dần nên ối dễ bị vỡ tại vị trí này.
Một số tình trạng bệnh lý (chảy máu, viêm màng ối) có thể dẫn đến ối vỡ non [27]. Trên 80% các trường hợp sản phụ có ối vỡ non không xác định được nguyên nhân [24]. Yếu tố nguy cơ của ối vỡ non 1.1 Do giảm độ bền của các màng thai - Nhiễm trùng âm đạo, cổ tử cung, tử cung: nguyên nhân gây nhiễm khuẩn thường gặp là nhóm Neisseria gonorrhoeae, Chlamydia trachomatis, Trichomonas vaginalis và beta-hemolytic streptococcus group B [50],[54]. Tỷ lệ sản phụ có ối vỡ non được chẩn đoán có viêm âm đạo - cổ tử cung trong nghiên cứu của Khăm Kịp Phaphong Savăn năm 2006 ở Huế là 62,86% [22].
- Viêm đường tiết niệu: khi mang thai, khối lượng tử cung lớn chèn ép vào bàng quang và niệu quản gây dãn niệu quản và ứ đọng nước tiểu khi đó vi khuẩn sẽ phát triển và gây viêm đường tiết niệu [49]. - Mẹ nhẹ cân: chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index) < 19,8 kg/m2 có nguy cơ dẫn đến ối vỡ non [49],[50],[60]. - Kinh tế kém: những sản phụ có đời sống kinh tế thấp, lao động nặng 7 nhọc trong quá trình mang thai thì có nguy cơ ối vỡ non cao hơn những người có điều kiện kinh tế khá giả [42],[49],[60]. - Hút thuốc lá: nguy cơ xảy ra ối vỡ non tăng gấp đôi ở sản phụ hút thuốc lá trong thai kỳ so với sản phụ không hút thuốc lá [9],[26],[60].
- Xuất huyết trong 3 tháng đầu hoặc 3 tháng cuối thai kỳ: thường đó là sự bong nhau và làm tăng thrombin màng rụng và ảnh hưởng đến việc tăng sản xuất protease của màng rụng - màng đệm [26],[38]. Do tăng áp lực buồng ối - Hở eo tử cung: trong trường hợp này màng ối không được bảo vệ nên dễ vỡ. Những sản phụ có chiều dài cổ tử cung < 25 mm ở tuần thai thứ 22 đến 24 của thai kỳ làm tăng nguy cơ xảy ra ối vỡ non [44],[49],[50]. - Cơn co tử cung quá mạnh: đoạn dưới tử cung bị co thắt nên màng ối dễ vỡ [33].
- Chấn thương: là những chấn thương ở vùng bụng như tai nạn xe cộ, té ngã hoặc bị đấm [42]. - Khung chậu hẹp, tử cung dị dạng: đầu dưới màng ối do chịu sức ép nên dễ dẫn đến tình trạng bị vỡ màng ối [9]. - Ngôi bất thường: như ngôi ngang, ngôi mông, ngôi đầu cao dễ gây vỡ ối do cản trở sự bình chỉnh tốt của ngôi [9],[20]. - Đa thai, đa ối: làm cho áp lực trong buồng tử cung tăng, căng màng ối dễ gây ối vỡ non [4],[9].
- Nhau bám thấp: màng ối dễ bị rách khi có những cơn co tử cung đầu tiên [33]. Yếu tố khác Tiền căn sanh non, ối vỡ non [9],[51]. Những sản phụ có tiền sử ối vỡ non xảy ra ở thai non tháng có nguy cơ tái phát ở lần mang thai sau từ 20% đến 30% [26],[27]. 8 Những yếu tố không liên quan đến ối vỡ non xảy ra ở thai non tháng, bao gồm: giao hợp, thăm khám cổ tử cung, mẹ tập thể dục, số lần sinh và chế độ dinh dưỡng thiếu vitamin C trong quá trình mang thai [26],[27],[44].
DIỄN BIẾN VÀ NGUY CƠ XẢY RA SAU KHI ỐI VỠ NON 1. Diễn biến xảy ra sau khi ối vỡ non Thời gian từ lúc ối vỡ đến khi bắt đầu có cơn gò chuyển dạ được gọi là giai đoạn tiềm tàng (tiềm thời) [4],[20]. Ở thai kỳ đủ tháng có ối vỡ non, 50% sẽ vào chuyển dạ trong 12 giờ, 70% trong 24 giờ, 85% trong 48 giờ và 95% trong 72 giờ [27]. Nếu tuổi thai giữa 28 tuần cho đến khi thai đủ tháng, khoảng 50% chuyển dạ sẽ xảy ra trong 24 giờ và 80% sẽ xảy ra trong 1 tuần [38].
Giai đoạn tiềm tàng chịu ảnh hưởng của tuổi thai (50% thai kỳ ối vỡ non sẽ đi vào chuyển dạ trong 24 - 48 giờ và 70 - 90% trong 7 ngày), lượng nước ối (thiểu ối nặng thường có giai đoạn tiềm tàng ngắn), đa thai (giai đoạn tiềm tàng trong song thai ngắn hơn trong đơn thai) [27]. Một số nguy cơ xảy ra sau khi ối vỡ non Đôi khi ối vỡ non có lợi như trong trường hợp nhau bám thấp, bám bên. Khi ối vỡ sẽ hết co kéo màng nhau, ngôi tì vào bánh nhau nên cầm máu. Nhưng chủ yếu ối vỡ non đem lại hậu quả xấu [33].
Một số nguy cơ về phía mẹ Nguy cơ nhiễm trùng ở mẹ phụ thuộc vào thời gian tiềm tàng. Việc kéo dài thời gian này giúp thai nhi trưởng thành hơn, tuy nhiên điều này có khả năng gây nhiễm trùng cho mẹ và thai cao nếu không được kiểm soát tốt [20]. Tỷ lệ nhiễm trùng ối ở thai đủ tháng là 1%, ở thai non tháng thì tỷ lệ này là 20 - 40% [26].