ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện nên nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Cùng với sự thay đổi đó thì cơ cấu bệnh tật, các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và nhu cầu CSSK của nhân dân cũng có những thay đổi cơ bản theo hướng đa dạng, đi vào chuyên sâu với đòi hỏi chất lượng ngày càng cao [11]. Các dịch vụ CSSK đã trải qua những thay đổi lớn theo thời gian để đáp ứng các điều kiện cụ thể của từng giai đoạn, nhiều nghiên cứu đã làm thay đổi quan điểm của các nhà khoa học về hệ thống chăm sóc sức khoẻ. Mong muốn của người sử dụng dịch vụ y tế (DVYT) ngày càng cao, khi họ nhận thấy các cơ sở y tế (CSYT) khác cung cấp dịch vụ tốt thì họ sẽ mong muốn và yêu cầu được hưởng các dịch vụ tương đương ở nơi mà họ đến điều trị [48].
Do đó, các đơn vị y tế nói chung hay bệnh viện nói riêng phải xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hút thêm bệnh nhân để đảm bảo sự phát triển và thành công. Từ năm 1980, ở một số nước tại Châu Âu đã xác định sở thích và sự lựa chọn của bệnh nhân là yếu tố quan trọng nhất trong thị trường CSSK. Các dịch vụ chất lượng cao của các bệnh viện, có thể dẫn đến việc thu hút bệnh nhân mới và duy trì các bệnh nhân hiện có, tăng cường các mối quan hệ với bệnh viện [30], [50]. Có rất nhiều yếu tố liên quan tới hành vi sử dụng dịch vụ CSSK trong thời kỳ công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, người dân nhanh chóng tiếp cận được những thành tựu y học mới và từ đó hình thành các mong muốn khác nhau đối với chất lượng DVYT.
Những thách thức của việc cung cấp DVYT tại các bệnh viện nước ta, từ Trung ương tới địa phương còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dân. Từ đó, dẫn đến việc làm giảm niềm tin của người dân với hệ thống y tế Việt Nam, để chảy máu ngoại tệ khi một số lượng không nhỏ và ngày càng tăng, người dân sử dụng DVYT ở các nước trong khu vực và các nước có nền y tế phát triển như Mỹ, Pháp, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc [12]. Hiện nay, tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp (BVĐKNN) đang dần thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính, nên việc thu hút bệnh nhân đến khám chữa bệnh 2 để tăng nguồn thu là vô cùng cấp thiết. Năm 2014, Bệnh viện cũng đã đưa khoa khám bệnh Chất lượng cao vào hoạt động với mục đích là tăng thêm nguồn thu và từng bước tạo được dấu ấn trong lòng bệnh nhân.
Bệnh nhân sử dụng dịch vụ là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của cơ sở cung cấp DVYT. Nhu cầu khám chữa bệnh phụ thuộc vào mô hình bệnh tật, kinh tế, của các nhóm dân cư và luôn biến động. Chính vì vậy, bệnh viện phải luôn nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân về vấn đề CSSK. Trước những thay đổi này, chúng tôi thiết nghĩ cần phải nhận diện được đặc điểm của người sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh như thế nào? Có sự khác biệt nào về đặc điểm bệnh nhân sử dụng loại hình dịch vụ KCB tại bệnh viện? Từ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Mô tả đặc điểm của bệnh nhân sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tại 2 khoa của Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp năm 2018”, với các mục tiêu sau: 3 MỤC TIÊU 1.
Mô tả đặc điểm bệnh nhân sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tại khoa Khám bệnh và Khoa khám Chất lượng cao của Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp trong tháng 5 và 6 năm 2018. So sánh đặc điểm bệnh nhân sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tại khoa Khám bệnh và khoa khám Chất lượng cao của Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp trong tháng 5 và 6 năm 2018. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, đặc điểm dịch vụ y tế 1.
Một số khái niệm Dịch vụ: Theo Luật giá (2013), của Quốc hội Việt Nam ghi rõ, dịch vụ được hiểu là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật [17]. Còn theo từ điển tiếng việt thì dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [27]. Từ đó có thể đưa ra, dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
Dịch vụ y tế (DVYT) bao gồm tất cả các dịch vụ liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnh hay dịch vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng, bao gồm những dịch vụ liên quan trực tiếp và gián tiếp đến con người. DVYT là kết quả cụ thể của bất kỳ hệ thống y tế nào. Nói đến cung cấp dịch vụ tức là nói đến những biện pháp mà các nhà cung cấp dịch vụ áp dụng, để kết hợp các nguồn lực đầu vào như tiền, con người, trang thiết bị và thuốc nhằm cung cấp các dịch vụ can thiệp y tế. Để cải thiện sự tiếp cận, độ bao phủ và chất lượng dịch vụ, các nhà quản lý y tế cần phải dựa vào nguồn lực đầu vào, dựa vào cách thức tổ chức và hệ thống quản lý các dịch vụ y tế và dựa vào việc động viên, khuyến khích người cung cấp và người sử dụng dịch vụ [26].
Tóm lại, có nhiều quan niệm về dịch vụ y tế được phát biểu dưới các khía cạnh khác nhau nhưng nội hàm của khái niệm DVYT có thể hiểu là một loại hàng hóa đặc biệt không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người sử dụng/bệnh nhân nhằm đáp ứng các nhu cầu về CSSK của con người bao gồm khám, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi sức khỏe. Dịch vụ khám chữa bệnh (KCB): Theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh (2009), đưa ra khái niệm khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng 5 để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho bệnh nhân [16]. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận [18].
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh [16]. Theo khái niệm của WHO, bệnh viện là một phần không thể thiếu của một tổ chưc y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư dịch vụ chữa trị và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ CSSK tại gia đình, song song với đó là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế và trung tâm nghiên cứu y học [51]. Bệnh nhân là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh [16]. Việc sử dụng dịch vụ KCB là khả năng những người khi có tình trạng sức khỏe bất thường hoặc khi có nhu cầu đến KCB được mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ KCB nào do các CSYT công lập hay y tế tư nhân cung cấp [26].
Chất lượng dịch vụ y tế: Có nhiều định nghĩa về chất lượng DVYT, nhưng chung quy lại thì có thể khái quát là có hiệu quả khoa học, thích hợp với bệnh nhân, an toàn, bệnh nhân chấp nhận được với sự hài lòng và chi phí điều trị [11] 1. Đặc điểm của dịch vụ y tế Cung cấp dịch vụ của bệnh viện là một hệ thống tổ chức chặt chẽ để tạo ra một mối liên kết mang tính liên tục từ khi khách hàng tiếp cận lần đầu tiên (khám bệnh) cho đến khi kết thúc việc sử dụng dịch vụ, là quá trình làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách liên tục. Một dịch vụ chỉ tồn tại và phát triển khi tạo ra được niềm tin và uy tín đối với khách hàng. Bệnh nhân không có khả năng lựa chọn 6 đặc biệt trong các tình huống cấp cứu, người sử dụng sản phẩm hóa y tế chịu sự chi phối của người cung ứng dịch vụ, các nhân viên y tế (tính đúng thời điểm và chấp nhận vô điều kiện) nên dịch vụ CSSK nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trong tình trạng cấp cứu: không thể chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ bằng mọi giá (không mặc cả).
Dịch vụ CSSK là bất đối xứng về thông tin, thông tin không đầy đủ [11]. Tiếp cận DVYT là một phạm trù khó để xác định. Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế Hệ thống cung ứng cung ứng DVYT được cập nhật năm 2016 theo 5 lĩnh vực chính: (1) Y tế dự phòng; (2) Chăm sóc sức khoẻ ban đầu; (3) KCB và PHCN; (4) Y dược học cổ truyền và (5) Dân số; Kế hoạch hóa gia đình; Sức khỏe bà mẹ trẻ em [8]. Còn trước đây những vấn đề như Chăm sóc sức khỏe ban đầu; Dân số, Kế hoạch hóa gia đình; Sức khỏe bà mẹ trẻ em đều thuộc lĩnh vực dự phòng [7] 1.
Cung ứng dịch vụ y tế dự phòng Việt Nam đã xây dựng được một mạng lưới y tế công cộng và y tế dự phòng rộng khắp từ trung ương tới thôn, bản và có sự tham gia phối hợp của nhiều bộ ngành.