Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hệ thống y tế công lập chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế tự chủ tài chính, Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp với quy mô 520 giường bệnh kế hoạch, tiếp nhận trung bình 680 lượt bệnh nhân khám mỗi ngày, phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các bệnh viện tuyến trung ương và phòng khám tư nhân trong bán kính dưới 10 km. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Bệnh viện của tác giả Nguyễn Duy Khiêm, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Hà Hữu Tùng tại Trường Đại học Y tế công cộng, đã tập trung nhận diện sâu sắc hành vi và phân khúc người bệnh. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là mô tả và so sánh các đặc điểm nhân khẩu học, mô hình bệnh tật và yếu tố cơ sở y tế giữa 210 bệnh nhân khám ngoại trú tại Khoa Khám bệnh thông thường và Khoa khám Chất lượng cao trong thời gian tháng 5 và tháng 6 năm 2018.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, giúp ban lãnh đạo bệnh viện tối ưu hóa quy trình tiếp đón và phân bổ nguồn nhân lực y tế. Kết quả ghi nhận có tới 84,3% người bệnh sinh sống trong phạm vi dưới 10 km và 60% bệnh nhân sử dụng thẻ bảo hiểm y tế. Đây là những chỉ số đo lường then chốt giúp các nhà quản trị hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ y tế, cân bằng giữa nhiệm vụ an sinh xã hội và mục tiêu gia tăng nguồn thu bền vững cho đơn vị tự chủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng tích hợp của ba mô hình lý thuyết kinh điển trong quản trị y tế và hành vi khách hàng:

Mô hình hành vi sử dụng dịch vụ y tế của Andersen và Newman (1968) kết hợp mô hình tiếp cận dịch vụ y tế tại các nước đang phát triển của Kroeger (1983). Cấu trúc lý thuyết này phân tích hành vi lựa chọn cơ sở y tế thông qua ba nhóm biến số chính: yếu tố tiền định của cá nhân (tuổi tác, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, thẻ bảo hiểm), yếu tố bệnh tật (tính chất cấp tính, mạn tính và nhận thức mức độ trầm trọng) cùng các yếu tố thuộc về cơ sở y tế (vị trí địa lý, chi phí, hoạt động truyền thông và chất lượng phục vụ).

Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVPERF do Cronin và Taylor phát triển năm 1992, kế thừa từ cấu trúc 5 thành phần của thang đo SERVQUAL (Parasuraman, 1988) nhưng tinh giản phần kỳ vọng, tập trung hoàn toàn vào mức độ cảm nhận thực tế của người bệnh qua 22 biến quan sát thuộc 5 khía cạnh: Sự hữu hình, Sự tin cậy, Sự đáp ứng, Sự đảm bảo và Sự đồng cảm.

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ các khái niệm nền tảng bao gồm dịch vụ y tế theo Luật Giá năm 2012, hoạt động khám chữa bệnh theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, dịch vụ khám theo yêu cầu và cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở y tế công lập.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang mô tả kết hợp phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của thông tin:

Nghiên cứu định lượng tiến hành trên cỡ mẫu 210 bệnh nhân, được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) với độ tin cậy 95%, mức sai số tuyệt đối 0,07 và dự phòng 5% người từ chối. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống cơ học được áp dụng trực tiếp trên phần mềm tiếp đón khám bệnh hàng ngày của bệnh viện với khoảng cách chọn mẫu k = 113, chọn ra 127 bệnh nhân tại Khoa Khám bệnh và 83 bệnh nhân tại Khoa khám Chất lượng cao.

Nghiên cứu định tính thực hiện qua 16 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm 6 cán bộ quản lý (Phó Giám đốc bệnh viện phụ trách khối khám, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, Trưởng khoa và Điều dưỡng trưởng của hai khoa) cùng 10 bệnh nhân đại diện.

Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng SPSS 22.0. Các kiểm định thống kê gồm Chi-square, Fisher's exact test cho biến định danh và Mann-Whitney U test cho thang đo Likert 5 mức độ, lấy ngưỡng ý nghĩa p < 0,05. Nghiên cứu tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực đạo đức theo Giấy chứng thuận số 356/2018/YTCC-HD3 của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu từ 210 đối tượng nghiên cứu cho thấy những nét đặc thù rõ rệt giữa hai khoa khám bệnh:

Sự phân hóa mạnh mẽ theo độ tuổi và phân khúc lao động: Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 44,3 ± 16,4 tuổi. Tại Khoa khám Chất lượng cao, nhóm tuổi trẻ từ 18 đến 39 tuổi chiếm ưu thế vượt trội với 65,1%, trong khi nhóm từ 60 tuổi trở lên chỉ chiếm 15,7%. Ngược lại, tại Khoa Khám bệnh thông thường, người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,2% (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001). Về nghề nghiệp, nhóm làm việc văn phòng (25,3%) và lao động tự do (32,5%) tập trung đông tại Khoa khám Chất lượng cao, trong khi nông dân (26,0%), công nhân (22,0%) và người nghỉ hưu (22,0%) chiếm đa số tại Khoa Khám bệnh.

Mối liên hệ giữa thu nhập và hành vi chi trả dịch vụ y tế: Nhóm bệnh nhân có thu nhập trên 8 triệu đồng/tháng lựa chọn Khoa khám Chất lượng cao lên tới 39,2%, cao gần gấp 4 lần so với Khoa Khám bệnh (10,0%). Ngược lại, nhóm có thu nhập dưới 4 triệu đồng/tháng chủ yếu khám tại Khoa Khám bệnh với 45,8% (p < 0,001).

Tác động của bảo hiểm y tế và tính chất bệnh lý: Tỷ lệ bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế chiếm 60% toàn bộ mẫu. Đáng chú ý, có tới 24,1% bệnh nhân khám tại Khoa khám Chất lượng cao sở hữu thẻ bảo hiểm y tế đúng tuyến nhưng vẫn tự nguyện chi trả toàn bộ viện phí ngoài bảo hiểm để đổi lấy sự nhanh chóng và tiện nghi. Về tình trạng bệnh, nhóm bệnh mạn tính tập trung chủ yếu ở Khoa Khám bệnh (48,8%), trong khi nhóm chưa rõ bệnh lý có xu hướng đến Khoa khám Chất lượng cao để chẩn đoán sàng lọc ban đầu (69,8%).

Yếu tố khoảng cách địa lý và tiếp cận dịch vụ: Có 84,3% người bệnh cư trú trong bán kính dưới 10 km (huyện Thanh Trì chiếm 49,0%, Thường Tín chiếm 40,0%) và 90,5% người bệnh di chuyển đến bệnh viện dưới 30 phút. Kênh truyền thông Internet và mạng xã hội đóng góp tới 57,6% trong tổng số người biết đến bệnh viện qua truyền thông.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về đặc điểm người bệnh giữa hai khoa khám phản ánh xu hướng tiêu dùng y tế hiện đại. Nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, có thu nhập khá và làm việc văn phòng luôn coi trọng thời gian và sự linh hoạt, chấp nhận chi trả viện phí cao để không phải chờ đợi lâu. Kết quả này tương đồng với các công bố khoa học tại Thượng Hải của Wenya Yu (2017) và Tehran của Bahadori (2014), khẳng định sự hài lòng và tiết kiệm thời gian là động lực hàng đầu thúc đẩy sử dụng dịch vụ chất lượng cao.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn trực quan qua biểu đồ thanh phân phối thu nhập và biểu đồ mạng nhện thang đo SERVPERF thể hiện rõ sự vượt trội của Khoa khám Chất lượng cao ở tất cả 5 khía cạnh chất lượng (điểm trung bình từ 4,0 đến 4,3 trên thang điểm 5). Việc bệnh nhân mạn tính và người cao tuổi gắn bó với Khoa Khám bệnh (tỷ lệ tái khám đạt 68,5%) phản ánh vai trò bảo trợ tài chính không thể thay thế của chính sách bảo hiểm y tế toàn dân đối với các nhóm đối tượng yếu thế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng toàn diện nhu cầu của các phân khúc người bệnh, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Tái cấu trúc quy trình tiếp đón và số hóa thủ tục khám chữa bệnh ngoại trú: Phòng Công nghệ thông tin phối hợp cùng Phòng Kế hoạch tổng hợp triển khai ứng dụng đăng ký khám bệnh online và hệ thống xếp hàng tự động thông minh. Mục tiêu cắt giảm 30% đến 40% thời gian chờ đợi tại Khoa Khám bệnh trong lộ trình 6 tháng đầu năm, đảm bảo hoàn tất quy trình khám cơ bản dưới 60 phút mỗi lượt.

  2. Xây dựng không gian tiện ích và luồng phục vụ ưu tiên cho người cao tuổi: Khoa Khám bệnh kết hợp cùng Phòng Điều dưỡng thiết lập khu vực chờ riêng biệt có điều hòa, nước uống miễn phí và bổ sung đội ngũ hỗ trợ di chuyển cho người bệnh trên 60 tuổi mắc bệnh mạn tính. Kế hoạch hoàn thành trong vòng 3 tháng với mục tiêu nâng tỷ lệ hài lòng của khối người bệnh này lên trên 90%.

  3. Nhân rộng và nâng cấp mô hình dịch vụ khám theo yêu cầu: Ban Giám đốc phê duyệt đề án mở rộng diện tích và danh mục kỹ thuật chuyên sâu tại Khoa khám Chất lượng cao, bổ sung các gói khám tổng quát định kỳ cho khối doanh nghiệp. Chỉ tiêu tăng trưởng 20% lượng bệnh nhân tự nguyện chi trả trong vòng 12 tháng.

  4. Đẩy mạnh chiến lược truyền thông kỹ thuật số đa kênh: Phòng Truyền thông và Chăm sóc khách hàng đẩy mạnh tối ưu hóa website, phát triển nội dung chuyên môn trên mạng xã hội Facebook và hệ thống cổng thông tin điện tử y tế. Phấn đấu tăng 50% mức độ nhận diện thương hiệu dịch vụ kỹ thuật cao trong bán kính 15 km thuộc khu vực cửa ngõ phía Nam Hà Nội trong vòng 6 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

Ban Giám đốc và các nhà hoạch định chiến lược bệnh viện công lập: Cung cấp khung phương pháp luận và dữ liệu thực tế để thiết kế mô hình khoa khám bệnh chất lượng cao song song với khoa khám bảo hiểm y tế, giải quyết hài hòa bài toán tự chủ tài chính.

Trưởng khoa Khám bệnh và cán bộ quản lý chất lượng bệnh viện: Nắm bắt chi tiết bộ công cụ đánh giá SERVPERF 22 biến để chuẩn hóa quy trình chuyên môn, đo lường sự hài lòng của người bệnh ngoại trú theo định kỳ.

Giảng viên, học viên sau đại học ngành Quản lý bệnh viện và Y tế công cộng: Tài liệu học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng - định tính, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống và phân tích thống kê y sinh.

Chuyên viên Marketing y tế và Chăm sóc khách hàng: Hiểu rõ hành vi người bệnh theo vị trí địa lý và phân khúc kinh tế xã hội để xây dựng các thông điệp truyền thông y tế trúng đích, khai thác hiệu quả các kênh tiếp thị số.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao có 24,1% bệnh nhân có bảo hiểm y tế vẫn chọn Khoa khám Chất lượng cao?

Bệnh nhân thuộc nhóm này ưu tiên sự nhanh chóng, không gian khám tiện nghi và mong muốn được bác sĩ tư vấn chuyên sâu mà không phải chờ đợi qua các khâu thủ tục bảo hiểm phức tạp.

Yếu tố khoảng cách địa lý ảnh hưởng như thế nào đến quyết định khám bệnh?

Khoảng cách là yếu tố quyết định hàng đầu trong lựa chọn khám ngoại trú. Nghiên cứu ghi nhận 84,3% người bệnh ở trong bán kính 10 km và 90,5% đến viện dưới 30 phút nhờ hệ thống giao thông thuận lợi dọc trục Quốc lộ 1A.

Mô hình SERVPERF trong nghiên cứu đo lường những khía cạnh nào?

Thang đo SERVPERF đo lường cảm nhận thực tế của người bệnh qua 22 tiêu chí thuộc 5 khía cạnh cốt lõi: Cơ sở vật chất hữu hình, Sự tin tưởng chẩn đoán, Tinh thần sẵn sàng đáp ứng, Năng lực chuyên môn đảm bảo và Sự đồng cảm của nhân viên y tế.

Có sự khác biệt về nhóm tuổi giữa hai khoa khám bệnh không?

Sự khác biệt rất rõ nét và có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Khoa khám Chất lượng cao thu hút 65,1% người trẻ từ 18 đến 39 tuổi, trong khi Khoa Khám bệnh thông thường có 36,2% là người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên.

Cỡ mẫu nghiên cứu 210 bệnh nhân được lựa chọn theo phương pháp nào?

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống cơ học dựa trên mã định danh tiếp đón hàng ngày với bước nhảy k = 113 trên tổng số khoảng 680 lượt khám mỗi ngày trong thời gian 2 tháng liên tục.

Kết luận

  • Nhận diện thành công chân dung 210 bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp với 54,8% là nữ giới và độ tuổi trung bình đạt 44,3 tuổi.
  • Xác lập bằng chứng khoa học về sự phân tầng rõ rệt: Khoa khám Chất lượng cao thu hút nhóm người bệnh trẻ (65,1%), thu nhập trên 8 triệu đồng (39,2%), trong khi Khoa Khám bệnh là nơi phục vụ chính cho người cao tuổi (36,2%) và người bệnh mạn tính có bảo hiểm y tế (83,5%).
  • Khẳng định vai trò của vị trí địa lý với 84,3% người bệnh trong phạm vi 10 km và hiệu quả vượt trội từ kênh truyền thông Internet chiếm 57,6%.
  • Đánh giá chất lượng dịch vụ theo thang đo SERVPERF đạt mức điểm cao từ 4,0 đến 4,3 điểm, làm tiền đề vững chắc cho việc mở rộng dịch vụ theo yêu cầu.
  • Lộ trình cải tiến hành chính, đầu tư khu đón tiếp người cao tuổi và số hóa quy trình tiếp đón cần được thực hiện ngay trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tiếp theo.

Các nhà quản lý y tế và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp khung phân tích hành vi và bộ chỉ số SERVPERF của luận văn để nâng chuẩn chất lượng khám chữa bệnh ngoại trú tại đơn vị mình.