CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI TĂNG HUYẾT ÁP 1. Định nghĩa tăng huyết áp Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Một người lớn được gọi là tăng huyết áp (THA) khi huyết áp tối đa, huyết áp tâm thu (HATT) ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu, huyết áp tâm trương (HATTr) ≥90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ huyết áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA (Tạ Văn Bình, 2006). Đây không phải tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau.
THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: Tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành. Phân loại bệnh tăng huyết áp 1. Phân loại theo giai đoạn huyết áp Theo WHO công bố năm 1979, THA đứng hàng đầu trong các bệnh lý tim mạch nói chung, tần suất từ 15–20% dân số từ 18 tuổi trở lên, THA là bệnh gây nhiều tai biến và biến chứng: Những người từ 50-60 tuổi, với huyết áp tâm trương 85 mmHg tỷ lệ tử vong là 63%, với huyết áp tâm trương trên 140 mmHg thì tỷ lệ tử vong là 83%. Nguyên nhân đột tử của bệnh nhân THA, có lẽ liên quan đến các loạn nhịp thất nặng nề như rung thất, nhịp nhanh kịch phát (Võ Thị Hồng Phượng, 2010).
Phân loại huyết áp theo WHO/ISH Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương Phân loại HA (mmHg) (mmHg) HA bình thường <140 <90 THA nhẹ 140 - 180 90 - 105 Phân nhóm ranh giới 140 - 160 90 - 95 THA vừa và nặng >180 >105 THA tâm thu đơn độc ≥140 <90 Phân nhóm ranh giới 140 - 160 <90 Cách phân loại này, không tính tới các tổn thương ở cơ quan đích: Tim, thận, mắt và cũng không tính tới các yếu tố nguy cơ: Xơ vữa động mạch, đái tháo đường. Nhưng ưu điểm là quy định mức độ nặng nhẹ của THA và nói tới tăng HATT đơn độc (một loại THA cần phải điều trị). Tuy nhiên, số huyết áp thay đổi nhiều trong ngày, nên thực tế lâm sàng không chỉ dựa vào trị số huyết áp đo một lần được. Tiêu chuẩn phân loại HA người từ 18 tuổi theo JNC 7 (2003) Phân loại Huyết áp tâm thu (mmHg) Huyết áp tâm trương (mmHg) Bình thường <120 và<80 Tiền THA 120-139 hoặc 80-90 THA giai đoạn I 140-159 hoặc 90-99 THA giai đoạn II ≥160 hoặc ≥100 Phân độ của WHO - ISH chặt chẽ hơn JNC 7.
Cách phân độ này khác với JNC 7 là không có phân loại tiền THA. Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay (Bộ Y tế, 2010) Huyết áp (mmHg) Phân loại Tâm thu Tâm trương HA tối ưu <120 Và <80 HA bình thường 120-129 và/hoặc 80 -84 HA bình thường cao 130-139 và/hoặc 85 -89 THA độ 1 (nhẹ) 140-159 và/hoặc 90 -99 THA độ 2 (trung bình) 160-179 và/hoặc 100 -109 THA độ 3 (nặng) ≥180 và/hoặc ≥110 THA tâm thu đơn độc ≥140 Và <90 Nếu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của HATT. Tuy nhiên, dựa theo bảng phân loại huyết áp của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hay Ủy ban phòng chống tăng huyết áp Hoa Kỳ (JNC 7, 8), tổng cộng có 3 cấp độ xác định bệnh là độ 1, độ 2 và độ 3.
- Độ 1 (nhẹ): Huyết áp dao động từ 140/90 mmHg đến 160/100 mmHg - Độ 2 (trung bình): Huyết áp dao động từ 160/100 mmHg đến 180/110 mmHg - Độ 3 (nặng): Huyết áp dao động trên 180/110 mmHg Chính vì thế, phác đồ điều trị bệnh tăng huyết áp mới nhất cũng dựa theo 3 cấp độ trên để kê toa thuốc phù hợp cho bệnh nhân. Phân loại theo mức độ tổn thương cơ quan đích Mức độ diễn biến của bệnh THA không chỉ dựa vào chỉ số HA (vì nhiều khi không hoàn toàn phản ánh đúng tình trạng bệnh lý và khả năng tử vong) mà còn theo các yếu tố nguy cơ và tổn thương cơ quan đích. Theo WHO: Dựa vào mức độ nặng nhẹ của các tổn thương, hay biến chứng mà THA gây ra cho các cơ quan, để phân loại giai đoạn THA. - Giai đoạn I: Không có dấu hiệu khách quan và tổn thương thực thể nào ở các cơ quan, chỉ khi đo có THA mà thôi.
- Giai đoạn II: Có ít nhất một trong các dấu hiệu tổn thương thực thể: Phì đại thất trái, thấy khi khám lâm sàng, X- quang, điện tim, siêu âm. Hẹp lan rộng, hay khu 5 trú các động mạch võng mạc. Protein niệu và/hoặc creatinin huyết tương tăng nhẹ (1,2- 2,0 mg/dl). Mảng xơ vữa mạch máu tại động mạch chủ/ động mạch cảnh; động mạch chậu/ động mạch đùi, phát hiện bằng siêu âm/ X-quang.
- Giai đoạn III: Có ít nhất một trong các biến chứng sau đây: + Tim : Đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim. + Não: Tai biến mạch máu não, thoáng thiếu máu não, bệnh não do THA, rối loạn tâm thần do tổn thương mạch não. + Mắt: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc, có thể phù gai thị, các dấu hiệu này đặc trưng cho giai đoạn ác tính, hoặc THA tiến triển nhanh. + Thận: Creatinin ≥2,0 mg/dl, suy thận.
Mạch máu: Phình tắc mạch, tắc động mạch có biểu hiện cơ năng. Cách phân loại này, có tác dụng thực tế đối với điều trị, nhưng không nói tới THA, làm hạ HA tới mức mà người bệnh chịu đựng được về mặt triệu chứng chủ quan và thầy thuốc chấp nhận được, là yêu cầu trong thực tế (Bộ Y tế, 2009; Trần Văn Minh, 2013). Phân loại theo nguyên nhân THA nguyên phát: Chiếm khoảng 95% các trường hợp hiện chưa xác định được nguyên nhân (Bộ Y tế, 2010). THA thứ phát: Khoảng 5%.
Nguyên nhân THA thứ phát: - Bẩm sinh: Hẹp eo động mạch chủ, bệnh Takayashu; thiếu hụt enzym steroid thượng thận. - Nội tiết: U tủy thượng thận; cường aldosteron nguyên phát (hội chứng Conn); quá sản; hội chứng Cushing; thiếu hụt enzym steroid; bệnh Basedow; chứng to đầu chi. - Ngoại lai: Do ăn uống: Ăn mặn, uống rượu, hút thuốc lá, dùng cam thảo. Do thuốc: Cocain; amphetamin; nacrotics, hormon thượng thận; cyclosporin; ergotamin, chống viêm non-steroid; thuốc tránh thai đường uống; ngừng các tác nhân liệt giao cảm; các chất nhại giao cảm.
- Thần kinh: Tăng áp lực nội sọ; viêm não; toan hô hấp; bệnh lý thần kinh ngoại biên. - Sau phẫu thuật tim: Cầu nối mạch vành; thay tim, thay van động mạch chủ. Bệnh nhu mô thận: khu trú (viêm thận - bể thận, sỏi thận, lao thận); cả hai bên (viêm cầu thận, viêm thận kẽ, xơ cầu thận do đái tháo đường); thận đa nang; bệnh thận IgA (Hoàng Cao Sạ, 2014). Một số THA đặc biệt THA tâm thu đơn độc: Phổ biến trong bệnh lý THA ở người có tuổi, do sự mất đàn hồi, giảm tính giãn nở của tổ chức liên kết ở thành các động mạch lớn, cùng với tuổi tác, là giảm khả năng đệm cho sự gia tăng HA trong kỳ tâm thu, trong khi sự co hồi giảm trong kỳ tâm trương, nên huyết áp tâm trương giảm xuống.
Huyết áp tâm thu 6 cao đi kèm với huyết áp tâm trương tăng nhẹ, bình thường hoặc thấp làm tăng khoảng cách áp lực mạch, đây là đặc trưng của tăng HA ở người cao tuổi (Bộ Y tế, 2010). THA tiến triển nhanh: Thường là ở bệnh nhân THA vừa, nay đột nhiên chuyển thành THA tiến triển nhanh. Tổn thương cơ quan đích rõ nhất, là soi đáy mắt thấy xuất tiết, xuất huyết võng mạc (Bộ Y tế, 2010). Theo JNC 6, cơn tăng HA ác tính có thể chia thành 2 loại.
- Cơn THA cấp cứu (emergency hypertension), đe dọa tính mạng bệnh nhân, phải được hạ HA cấp thời trong 1 giờ. - Cơn THA nặng, khẩn trương (urgency hypertention), chưa có tổn thương cơ quan đích, cần hạ HA trong vài giờ. ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP Hình 1.1 Quy trình chẩn đoán và xử trí bệnh THA (Bộ Y tế, 2010) 1. Mục tiêu điều trị Mục tiêu theo hướng dẫn của JNC 8: Theo JNC 8 mục tiêu điều trị có thay đổi so với JNC 7, cụ thể như sau: - Với bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên không có đái tháo đường hay bệnh thận mạn, huyết áp mục tiêu là <150/90 mmHg.
- Bệnh nhân từ 18 đến 59 tuổi không có bệnh nghiêm trọng mắc kèm và bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên có bệnh đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc cả hai, huyết áp mục tiêu là <140/90 mmHg. 7 - Điều trị đầu tay và điều trị sau đó nên giới hạn trong 4 nhóm thuốc: Lợi tiểu thiazid, chẹn kênh canci, ức chế men chuyển (ƯCMC) hoặc ức chế thụ thể angiotensin (Khuyến cáo này có khác với khuyến cáo của JNC 7 là lợi tiểu thiazid được khời đầu điều trị cho tất cả bệnh nhân). Mục tiêu điều trị theo Hướng dẫn của Bộ Y tế: Giảm tối đa các biến chứng mạch máu lớn và mạch máu nhỏ, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh, huyết áp mục tiêu là <130/80 mmHg. Ngoài ra cần kiểm soát được các chỉ số lipid máu và BMI (Bộ Y tế, 2009), (Bộ Y tế, 2010).
Theo khuyến cáo của Hội tim mạch học quốc gia Việt Nam năm 2018 (Hội Tim Mạch Việt Nam, 2018): Hình 1.2 Ranh giới đích điều trị ở người THA 1. Nguyên tắc chung THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài. - Mục tiêu điều trị là đạt huyết áp mục tiêu (HAMT) và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”. - “HAMT” cần đạt là <140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được.
Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì HAMT cần đạt là <130/80 mmHg. Khi điều trị đã đạt HAMT, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời. - Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích. Không nên hạ HA quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu.
- Kết hợp điều trị thuốc với chế độ sinh hoạt hợp lý. - Chọn thuốc ít tác dụng phụ, phù hợp với đối tượng bệnh. - Điều trị các yếu tố nguy cơ và bệnh mắc kèm (nếu có). Điều trị cụ thể 1.
Điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc Ở bệnh nhân THA độ 1, không có biến chứng bệnh tim mạch và tổn thương cơ quan đích, đáp ứng với thay đổi lối sống xảy ra sau 4-6 tháng đầu. Nên bắt đầu biện pháp thay đổi lối sống cùng với việc dùng thuốc ở bệnh nhân THA nặng (Bộ Y tế, 2009).