ĐẶT VẤN ĐỀ Tai nạn thƣơng tích (TNTT) là những tổn hại về thể chất do tai nạn hoặc bị tấn công và là nguyên nhân chính góp phần gia tăng “Gánh nặng bệnh tật toàn cầu”. Theo báo cáo về chấn thƣơng và TNTT toàn cầu năm 2018 của Tổ chức Y tế Thế giới đã chỉ ra rằng có đến hơn 4,4 triệu ngƣời chết do TNTT mỗi năm chiếm đến 9% tổng số ca tử vong trên Thế giới, thêm vào đó, hàng chục triệu ngƣời bị thƣơng tích không tử vong mỗi năm dẫn đến cấp cứu, nhập viện hoặc điều trị thƣờng dẫn đến tàn tật tạm thời hoặc vĩnh viễn và cần đƣợc chăm sóc và phục hồi sức khỏe thể chất và tinh thần lâu dài (1). Tại Việt Nam, tai nạn thƣơng tích đã và đang là một vấn đề đƣợc quan tâm. Theo báo cáo của cuộc điều tra quốc gia về TNTT – VNIS 2010, tỷ lệ TNTT do tất cả các nguyên nhân cao hơn so với thế giới và số ngƣời tử vong do TNTT còn có tỷ lệ cao hơn so với ác bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm (2).
Theo báo cáo Kết quả phòng chống tai nạn thƣơng tích giai đoạn 2016-2019 của Bộ Y tế, trung bình mỗi năm có khoảng 1.000 trƣờng hợp mắc tai nạn thƣơng tích, với tỉ suất khoảng 1.000 ngƣời, gây tử vong trung bình mỗi năm 35.000 ngƣời, chiếm 8% tổng số tử vong chung. Tỷ suất mắc TNTT trên 100.000 dân có xu hƣớng giảm từ năm 2016 (1. Từ những lý do trên, ngày 20 tháng 1 năm 2017, Bộ Y tế cũng đã ban hành quyết định 216/QĐ-BYT về việc phê duyệt kế hoạch phòng chống tai nạn thƣơng tích tại cộng đồng của ngành y tế giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu của Quyết định này nhằm Nâng cao năng lực của ngành y tế trong công tác phòng chống tai nạn thƣơng tích (PCTNTT) tại cộng đồng góp phần giảm tỷ lệ mắc, tử vong và tàn tật do tai nạn thƣơng tích, đặc biệt là tai nạn giao thông, đuối nƣớc, tai nạn lao động, bạo lực (4).
Trong những năm qua, tỉnh Bến Tre đã áp dụng nhiều biện pháp phòng chống tai nạn thƣơng tích nhƣ: Thông tin - Giáo dục - Truyền thông, tăng cƣờng năng lực hệ thống giám sát, thiết lập mạng lƣới sơ cấp cứu và vận chuyển tai nạn thƣơng tích. Tuy nhiên, tình hình tai nạn thƣơng tích tại tỉnh vẫn diễn biến phức tạp, tại tỉnh 2 trong năm 2020, số ngƣời mắc TNTT lên đến 30.000 ngƣời; trong đó có đến 225 trƣờng hợp tử vong, một số loại hình tai nạn thƣơng tích trƣớc đây ít gặp lại đang có chiều hƣớng gia tăng nhƣ đuối nƣớc, tự tử, bạo lực, xung đột… và hoàn cảnh xảy ra cũng rất đa dạng, phức tạp (5). Với việc kế hoạch phòng chống TNTT giai ddaonj 2021-2026 vừa đƣợc Bộ Y tế ban hành, cần có những đánh giá về công tác phòng chống TNTT hiện nay trên địa bàn, để có cơ sở cho việc cải thiện chất lƣợng của hoạt động phòng chống TNTT trên địa bản tỉnh Bến Tre. Vậy kết quả thực hiện chƣơng trình hoạt động phòng chống tai nạn thƣơng tích tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015-2020 là nhƣ thế nào? Có khác biệt gì giữa các hoạt động năm 2015 so với giai đoạn 2016-2020? Đâu là những yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động phòng chống TNTT?, Do hiện chƣa có bằng chứng hay số liệu nào trả lời đƣợc cho những câu hỏi trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sau: “Hoạt động phòng chống tai nạn thương tích của ngành y tế tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015-2020 và một số yếu tố ảnh hưởng”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng hoạt động phòng chống tai nạn thƣơng tích của ngành Y tế tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015 – 2020 2. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động phòng chống tai nạn thƣơng tích của ngành Y tế tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015 – 2020 4 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu 1.1 Một số khái niệm TNTT Tai nạn (accident): Là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thƣơng/ thƣơng tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân, gồm: tai nạn không chủ đích và tai nạn có chủ đích (6).
Thƣơng tích (injury): Là những thƣơng tổn thực thể trên cơ thể ngƣời do tác động của những năng lƣợng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hoá học hoặc phóng xạ) với mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể ngƣời. Ngoài ra, chấn thƣơng còn là sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống nhƣ trong trƣờng hợp đuối nƣớc, bóp nghẹt hoặc đông lạnh (7). Hiện nay, thuật ngữ thƣơng tích thƣờng đƣợc dùng nhiều hơn vì tai nạn có ngữ nghĩa mơ hồ, ngƣời ta thƣờng nghĩ đến tai nạn nhƣ là một điều xui xẻo, vận hạn, ngẫu nhiên, không thể tiên đoán và phòng tránh đƣợc. Hai khái niệm này đôi lúc rất khó phân biệt nên thƣờng gọi là tai nạn thƣơng tích.
Tai nạn thƣơng tích (TNTT): đƣợc định nghĩa là các hoạt động gây nên chấn thƣơng về thể chất. Những tai nạn này có thể gặp phải do bị ngã, bị đánh, thực hiện các hoạt động nặng, chơi thể thao, chấn thƣơng bởi dao kéo hoặc các vũ khí…(2). Theo các quan niệm truyền thống, TNTT đƣợc coi là các tai nạn ngẫu nhiên, không thể phòng tránh. Nhƣng trong những thập kỉ qua, nhờ sự hiểu biết tốt hơn về bản chất của thƣơng tích đã thay đổi những quan niệm cũ này, ngày nay cả những thƣơng tích không chủ ý và cố ý đƣợc xem là những thƣơng tích có thể phòng ngừa đƣợc (8).
Cộng đòng an toàn (CĐAT): là cộng đồng có khả năng kiểm soát và phòng ngừa đƣợc các loại TNTT cũng nhƣ giảm thiểu các yếu tố nguy cơ gây tai nạn và thƣơng tích trên. Quá trình xây dựng CĐAT phải có sự tham gia của tất cả các thành viên trong cộng đồng, chính quyền địa phƣơng, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể ở địa phƣơng (9), (10).2 Phân loại tai nạn thƣơng tích Phân loại TNTT theo loại hình thƣơng tích (11): o TNTT không chủ định, không chủ ý: Là hậu quả TNGT, đuối nƣớc, bỏng và ngã; cũng có thể do nghẹn/hóc, ngộ độc, do bom mìn và các vật liệu nổ gây ra, do côn trùng và súc vật cắn/đốt… Hầu hết các TNTT không chủ ý đều có thể phòng tránh đƣợc. o TNTT có chủ định, chủ ý: là do chủ ý của con ngƣời gồm tự thƣơng, tự tử, thƣơng tật do bạo lực, lạm dụng hoặc bị bỏ rơi. Phân loại TNTT theo nguyên nhân bao gồm (11): o Tai nạn giao thông (TNGT): Sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con ngƣời khi đang tham gia giao thông (có ít nhất 1 phƣơng tiện giao thông trong vụ tai nạn), do chủ quan, gặp phải các sự cố đột xuất hoặc do vi phạm luật An toàn giao thông, gây nên thiệt hại về sức khoẻ, thậm chí tử vong cho một hoặc nhiều ngƣời.
TNGT ở đây tính tất cả các trƣờng hợp xảy ra trên đƣờng bộ, đƣờng thuỷ, đƣờng sắt và hàng không. o Tai nạn lao động (TNLĐ): Xảy ra trong quá trình lao động (kể cả khi thu dọn sau làm việc) do các yếu tố nguy hiểm độc hại trong môi trƣờng lao động gây nên tổn thƣơng đến một hay nhiều bộ phận trên cơ thể ngƣời lao động. TNLĐ thƣờng xảy ra trong một số lĩnh vực nhƣ công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp. o Động vật cắn, đốt, húc: Trƣờng hợp ngƣời bị động vật tấn công, hay gặp nhất là chó, mèo… o Ngã: Tất cả các trƣờng hợp bị ngã không nằm trong nhóm TNGT.
o Đuối nƣớc: Trƣờng hợp bị chìm trong chất lỏng (nƣớc, xăng, dầu…). o Bỏng: Tổn thƣơng một hoặc nhiều lớp tế bào da do nhiệt, điện, bức xạ hay hóa chất hay ma sát. o Hóc dị vật, ngạt thở: Hóc dị vật xảy ra khi vật thể lạ rơi và mắc vào 6 đƣờng thở, bao gồm cả sặc thức ăn, gây nên khó thở hoặc không thể nói đƣợc. Ngạt thở có thể gồm các trƣờng hợp bị đe dọa đƣờng thở do mắc kẹt trong môi trƣờng oxy (loại trừ trƣờng hợp TNTT có chủ đích) o Ngộ độc: Hít, chạm, ăn hoặc tiêm vào cơ thể thuốc, hoá chất, khí độc, nọc độc với nồng độc hoặc liều lƣợng vƣợt quá giới hạn chịu đựng của cơ thể, gây tổn thƣơng một hoặc nhiều cơ quan trong cơ thể, thậm chí có thể gây tử vong.
o Tự tử: Chấn thƣơng do chính nạn nhân gây ra với mục đích đem lại cái chết cho chính bản thân. o Bạo lực trong gia đình, xã hội: Hành động vũ phu gây ra bởi một hoặc nhiều ngƣời, sử dụng hoặc không sử dụng vũ khí tấn công ngƣời khác dẫn đến chấn thƣơng, tổn thƣơng tinh thần hoặc gây tử vong. o Điện giật: Cơ thể bị tổn thƣơng hoặc cản trợ chức năng do ảnh hƣởng của dòng điện. o Khác: Các trƣờng hợp TNTT còn lại: sét đánh, thiên tai… Phân loại theo Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật (ICD-10) (12): Theo Phân loại quốc tế về bệnh tật ICD-10 thì TNTT đƣợc xếp vào chƣơng XIX bao gồm vết thƣơng, ngộ độc và hậu quả từ các nguyên nhân bên ngoài, mã hóa từ S00 - T98, đề cập đến hậu quả mà chƣa nói đến nguyên nhân TNTT.
Ở chƣơng XX, nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong đƣợc mã hóa từ V01 - Y98 đã phân loại các sự cố môi trƣờng, hoàn cảnh, nguyên nhân của TNTT và một số hậu quả khác. Chƣơng này đƣợc thiết kế dùng kèm với mã chƣơng khác nhằm nêu rõ bản chất của sự việc, vì vậy ngƣời ta thƣờng kết hợp chƣơng XIX và XX để nêu rõ bản chất của TNTT về nguyên nhân và hậu quả. Yếu tố nguy cơ tai nạn thƣơng tích Các yếu tố nguy cơ gây nên TNTT có thể chia làm 3 nhóm, cụ thể (7): - Yếu tố xã hội: Các yếu tố kinh tế xã hội có liên quan với nguy cơ TNTT ở trẻ bao gồm: các yếu tố kinh tế nhƣ thu nhập gia đình; Các yếu tố xã hội nhƣ học vấn 7 của bà mẹ; Các Yếu tố ảnh hƣởng đến cơ cấu gia đình nhƣ gia đình một bố/một mẹ, tuổi của mẹ, số ngƣời trong hộ gia đình và số con; Các Yếu tố ảnh hƣởng đến chỗ ở nhƣ loại hình thuê nhà, loại nhà, mức độ quá đông và các yếu tố khác mô tả khu dân cƣ (13), (14).