ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý là vấn đề quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn Thế giới, đóng vai trò quyết định hiệu quả điều trị, giảm chi phí đồng thời ngăn chặn tình trạng kháng kháng sinh gia tăng. Trong bối cánh đó, quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện trong thực hành lâm sàng là một trong những hoạt động quan trọng của dược sĩ, bác sỹ giúp nâng cao hiệu quả điều trị bệnh nhiễm trùng, giảm khả năng kháng thuốc của vi sinh vật, giảm chi phí điều trị và góp phần đảm bảo an toàn trong sử dụng thuốc cho bệnh nhân. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế tỉnh Lào Cai, là bệnh viện tuyến cao nhất của tỉnh, tiếp nhận nhiều đối tượng bệnh nhân khác nhau. Thực hiện Quyết định số 772/QĐ-BYT, Quyết định số 5631/QĐ-BYT Bệnh viện đã triển khai chương trình quản lý sử dụng kháng sinh, tuy nhiên chương trình vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả, chưa có nhiều nghiên cứu phân tích mức độ tiêu thụ kháng sinh và chất lượng kê đơn kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn tại bệnh viện.
Theo báo cáo tại viện, viêm phổi mắc phải cộng đồng là bệnh lý chiếm tỷ lệ lớn trong số các bệnh nhân điều trị nội trú. Đây là bệnh nhiễm khuẩn hô hấp thường gặp, có khả năng tiến triển nặng gây nhiều biến chứng, có thể dẫn đến tử vong và việc chẩn đoán và điều trị viêm phổi cộng đồng sớm, sử dụng kháng sinh hiệu quả, hợp lý, an toàn sẽ tránh những biến chứng đáng tiếc cho người bệnh. Do vậy để có căn cứ đề xuất các chiến lược trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện, cũng như xây dựng hướng dẫn điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai” với 2 mục tiêu: 1. Khảo sát thực trang tiêu thụ kháng sinh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai.
Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai. Kết quả nghiên cứu hy vọng rằng sẽ đưa ra một số hình ảnh chi tiết về tình hình tiêu thụ kháng sinh, một số hoạt động trong chương trình quản lý kháng sinh, từ đó đưa ra được những đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả điều trị tại bệnh viện. Tổng quan về chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện 1. Nội dung của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ Y tế, khuyến cáo một số nhiệm vụ cốt lõi của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện như sau [1]: Thành lập ban quản lý sử dụng kháng sinh của bệnh viện.
Xây dựng hướng dẫn chẩn đoán, phác đồ điều trị bệnh phù hợp với điều kiện đặc thù của cơ sở điều trị: Xây dựng các hướng dẫn lựa chọn kháng sinh, hướng dẫn tối ưu chế độ liều của kháng sinh dự phòng phẫu thuật, danh mục kháng sinh cần ưu tiên quản lý và các quy định giám sát, chuyển kháng sinh từ đường tiêm/truyền sang đường uống, hướng dẫn về kỹ thuật vi sinh lâm sàng, xây dựng quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn cơ bản. - Giám sát sử dụng kháng sinh và giám sát đề kháng kháng sinh tại bệnh viện - Các chiến lược hoạt động nhằm quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện - Đào tạo, tập huấn - Đánh giá thực hiện, báo cáo và phản hồi thông tin. Căn cứ theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT, nhóm nghiên cứu sẽ đánh giá một số tiêu chí sử dụng kháng sinh sau: - Đánh giá mức độ tiêu thụ kháng sinh thông qua liều dung một ngày DDD (DDD – Defined Daily Dose) với từng kháng sinh cụ thể theo toàn viện và các khoa lâm sàng, đánh giá kháng sinh sử dụng nội trú. - Số lượng, tỷ lệ % người bệnh được kê đơn kháng sinh.
- Số lượng, tỷ lệ % kháng sinh được kế phù hợp với hướng dẫn. - Số lượng, tỷ lệ % người bệnh được kê đơn 1 kháng sinh. - Số lượng, tỷ lệ người bệnh được kê kháng sinh phối hợp. - Số lượng, tỷ lệ % người bệnh kê đơn kháng sinh theo đường dung.
- Số lượng, tỷ lệ kháng sinh chuyển đường dung. - Đánh giá các vấn đề liên quan đến kê đơn kháng sinh trên một số bệnh nhiễm trùng. Chỉ định, liều dùng, cách dùng, tương tác thuốc, chống chỉ định. Đánh giá tiêu thụ kháng sinh trong bệnh viện Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá việc tiêu thụ kháng sinh nhưng nhìn chung có thể phân làm hai nhóm phương pháp: đánh giá định tính và đánh giá định lượng.
Đánh giá định tính Đối với nghiên cứu định tính nhằm đánh giá tính phù hợp của việc dung thuốc trên phương diện chất lượng và tính cần thiết của sử dụng thuốc so với các tiêu chuẩn được xây dựng trước đó. Các tiêu chuẩn này bao gồm chỉ định, liều dùng, độ dài đợt điều trị và các thông tin khác. Ở Bắc Mỹ, những nghiên cứu này được gọi là DUR (Drug Utilization Review) – Đánh giá sử dụng thuốc [34], khái niệm này cũng được hiểu tương tự như DUE – Drug Utilization Evaluation [21]. Đánh giá định lượng Phương pháp đánh giá định lượng được thực hiện tính toán lượng thuốc hoặc tổng chi phí thuốc được sử dụng nhưng không đánh giá được chất lượng của việc sử dụng thuốc.
Mục đích sử dụng phương pháp này thường bao gồm [29]. - Tính toán lượng thuốc tiêu thụ trong bệnh viện; - Theo dõi xu hướng sử dụng thuốc theo thời gian; - So sánh lượng tiêu thụ thuốc giữa các bệnh viện; - Xác định các thuốc chậm sử dụng hoặc bị lạm dụng; - Đo lường sử dụng thuốc theo sự thay đổi các yếu tố nhân khẩu học; - Đo lường bệnh tật liên quan dựa trên lượng tiêu thụ thuốc cụ thể. Một số phương pháp đánh giá định lượng kháng sinh được sử dụng đã được áp dụng trong thực tế bao gồm: (1) Tính toán dựa trên số đơn kê Phương pháp này tính toán lượng kháng sinh sử dụng trên việc đếm tổng số đơn kê kháng sinh, tổng số liều thuốc, ống hoặc gói thuốc sử dụng tại cơ sở. Do đó, phương pháp này không cung cấp một cái nhìn cụ thể về sử dụng thuốc ở bệnh nhân trừ trường hợp tất cả các bệnh nhân tại cơ sở đều sử dụng thuốc khảo sát với cùng một chế độ liều và/hoặc khoảng liều.
Nhìn chung với mục tiêu là xác định lượng 3 thuốc sử dụng tái cơ sơ điều trị, phép tính toán theo tổng số gam thuốc sẽ có định lượng cao hơn [21]. (2) Tính toán dựa trên chi phí sử dụng thuốc Đây là phương pháp đơn giản được sử dụng phổ biến trước đây và hiện nay vẫn được áp dụng trong một số trường hợp. Tuy nhiên, việc tính toán dựa trên chi phí được xem là không đủ tin cậy do giá thuốc có xu hướng biến thiên theo thời gian dẫn đến sự biến thiên lớn về kết quả đo lường trong thực tế sử dụng. Bên cạnh đó, giá thuốc còn thay đổi tùy theo biệt dược và kênh phân phối thuốc.
Do đó, tính toán này có hiệu lực rất kém, đặc biệt là trong những nghiên cứu dọc phân tích xu hướng sử dụng thuốc theo thời gian [34]. (3) Tính toán lượng kháng sinh sử dụng dựa trên tổng số gam kháng sinh Phương pháp đánh giá này sử dụng dữ liệu về tổng khối lượng kháng sinh mua từ khâu mua sắm thuốc. Trong trường hợp phân tích xu hướng sử dụng một thuốc theo thời gian, đánh giá theo tính toán này là khá tin cậy. Tuy nhiên, phương pháp này sẽ cho kết quả không chính xác nếu so sánh các thuốc có liều sử dụng khác nhau.
Do đó, cần có một phép đo lường cho phép chuẩn hóa việc tính toán cho các thuốc với liều dung hàng ngày khác nhau, đặc biệt khi đánh giá sử dụng tổng lượng các kháng sinh khác nhau trong cùng nhóm điều trị [19]. Tính toán theo liều xác định hàng ngày (DDD) sẽ giải quyết vấn đề này. (4) Tính toán theo liều xác định hàng ngày (DDD) Tính toán theo liều xác định hàng ngày (DDD) là phương pháp được thừa nhận rộng rãi nhất. Phương pháp này đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thông qua từ những năm 1970 với mục đích chuẩn hóa nghiên cứu về sử dụng thuốc giữa các quốc gia.
DDD là viết tắt của Defined Daily Dose, là liều trung bình duy trì giả định mỗi ngày cho một thuốc với chỉ định chính dành cho người lớn [21]. Liều DDD thường dựa trên liều của từng phác đồ điều trị, thường dung trong điều trị nhiều hơn là trong dự phòng. Nếu một thuốc được dùng với nhiều chỉ định khác nhau, DDD có thể được tính cho mỗi chỉ định. Tính DDD chỉ dành được cho những thuốc đã có mã ATC và được định kỳ đánh giá lại [21].
DDD là một công cụ thuận lợi để so sánh lượng tiêu thụ thuốc giữa các khoảng thời gian khác nhau hoặc giữa các đơn vị, vùng miền khác 4 nhau. DDD có thể được áp dụng để tính lượng tiêu thụ thuốc trong bất kỳ khoảng thời gian nào. Mặc dù vậy, phương pháp DDD cũng có những hạn chế như: Liều DDD không có ý nghĩa đối với sử dụng thuốc ở trẻ em và hiện cũng không có liều DDD nào được xác định cho bệnh nhân suy giảm chức năng thận [21]. Thông thường, liều ít thay đổi, tuy nhiên đối với kháng sinh, vẫn còn một số trường hợp DDD thay đổi theo thời gian, điều này gây khó khăn cho việc đánh giá xu hướng sử dụng kháng sinh.
Một số nghiên cứu về tiêu thụ kháng sinh 1. Trên thế giới Tại Mỹ, nghiên cứu năm 2011 ở 183 bệnh viện với mỗi bệnh viện nghiên cứu trên 175 bệnh nhân cho kết quả kháng sinh sử dụng nhiều nhất là fluoroquinolon (14,1%), các glycopeptid (12,2%), các penecilin phối hợp chất ức chế betalactamase (11%), các cephalosporin thế hệ 3(10,5%). Các chỉ định sử dụng kháng sinh chủ yếu trong trường hợp: nhiễm trùng đường hô hấp dưới, nhiễm trung tiết niệu, nhiễm trung da và mô mềm, nhiễm trùng tiêu hóa [22]. Tại Đức, khảo sát sử dụng kháng sinh ở 41.539 bệnh nhân của 132 bệnh viện năm 2011 thì tỷ lệ giá trị kháng sinh trên tổng giá trị tiền thuốc chiếm 25,5%, trong đó kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là cefuroxim (14,3%), ciprofloxacin (9,85%) và ceftriaxon (7,5%).