ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là tình trạng các mạch máu liên tục phải chịu áp lực cao. THA là thách thức y tế công cộng hàng đầu trên thế giới do làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch, đột quỵ não và thận (1). THA phổ biến ở các nuớc phát triển và ngày càng tăng ở các nuớc đang phát triển (2). Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2015, trên thế giới có tới 1,13 tỷ ngƣời mắc THA và 9,4 triệu ngƣời bị các cơn đau tim và đột quỵ và tử vong do mắc bệnh (3).
Dự báo số ngƣời mắc THA uớc tính sẽ tiếp tục tăng tới khoảng 1,56 tỷ ngƣời vào năm 2025 (3). Các hoạt động quản lý và phòng chống THA cho ngƣời bệnh (NB) hiện vẫn chƣa đáp ứng đƣợc so với kỳ vọng. Tại Hoa Kỳ, gần 30% ngƣời trƣởng thành mắc THA nhƣng khoảng 1/2 không đƣợc quản lý hay tiếp cận đƣợc với các chƣơng trình kiểm soát huyết áp (4). Ở Việt Nam, ƣớc tính năm 2015 cho thấy khoảng gần 1/2 ngƣời trên 18 tuổi mắc THA (47,3%) và đến năm 2025 chúng ta có khoảng 10 triệu ngƣời bị THA nhƣng đa phần không tham gia chƣơng trình điều trị hoặc không tuân thủ điều trị (5).
Ở Việt Nam, THA là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Theo báo cáo kết quả điều tra các yếu tố nguy cơ của một số BKLN năm 2015 ở nhóm tuổi từ 18 đến 69, tỷ lệ hiện mắc bệnh tăng huyết áp (THA) là 18,9% (6). Và tỷ lệ ngƣời mắc THA trong cộng đồng có xu huớng gia tăng nhanh trong 20 năm trở lại đây (7). Sự gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm (BKLN) nói chung và THA nói riêng do nguyên nhân liên quan đến các thói quen, tập quán của ngƣời dân và do mức độ gia tăng cao của các yếu tố nguy cơ nhƣ hút thuốc, uống rƣợu bia và dinh dƣỡng không hợp lý (7).
Trƣớc tình hình gia tăng của THA tại Việt Nam, năm 2010, dự án phòng chống THA đƣợc triển khai nằm trong một trong những chƣơng trình uu tiên của chƣơng trình mục tiêu quốc gia (8). Năm 2014, hoạt động khám sàng lọc và quản lý bệnh nhân THA đƣợc triển khai ở 1,179 xã/xã trên cả nuớc, phát hiện 365,182 ngƣời mắc THA. Các bệnh nhân THA đƣợc phát hiện sau sàng lọc đều đƣợc tƣ vấn quản lý tại các cơ sở y tế (9). Tiếp theo, các Quyết định số 376/QĐ- TTg phê duyệt Chiến lƣợc quốc gia phòng các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015-2025 (9) và Quyết định số 3756/QĐ-BYT ban hành Hƣớng dẫn hoạt động dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và quản lý một số BKLN phổ biến 2 cho tuyến y tế cơ sở (7).
Đây là văn bản quan trọng định hƣớng cách tiếp cận toàn diện và tập trung trong việc quản lý bệnh tăng huyết áp bao gồm từ hoạt động kiểm soát các yếu tố nguy cơ, dự phòng mắc bệnh đồng thời phát hiện sớm để quản lý các bệnh nhân THA tại tuyến cơ sở. Tuy nhiên, quản lý ngƣời bệnh THA tại TYT xã vẫn còn gặp nhiều trở ngại nhƣ thiếu thuốc điều trị HA, chƣa có cơ chế chi trả cho hoạt động tƣ vấn (7). Tỉnh Vĩnh Long và huyện Long Hồ đã xây dựng chƣơng trình nhằm tăng cƣờng công tác tuyên truyền nâng cao sức khỏe nhằm cung cấp dịch vụ CSSK và phục hồi chức năng, tổ chức khám và tƣ vấn và theo dõi sức khỏe định kỳ cho NB THA (10). Hiện tại, huyện đang quản lý hơn 6000 bệnh nhân THA và số bệnh nhân THA tiếp tục có xu huớng tăng lên qua các năm.
Tuy vậy, qua sổ sách và giám sát định kỳ thì tình hình quản lý bệnh THA tại các TYT xã vẫn còn nhiều tồn tại. Cụ thể nhiều bệnh nhân THA chƣa tuân thủ điều trị hay thuốc điều trị THA tại TYT xã thiếu. Câu hỏi đặt ra là quản lý bệnh tăng huyết áp tại các trạm y tế xã của huyện Long Hồ hiện đang đƣợc triển khai ra sao? Và những yếu tố nào ảnh hƣởng đến quản lý bệnh tăng huyết áp tại các trạm y tế xã của huyện Long Hồ? Xuất phát từ nhƣ cầu và thực trạng vấn đề nêu trên nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá thực trạng quản lý bệnh tăng huyết áp tại các trạm y tế xã của huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2021” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng quản lý bệnh tăng huyết áp tại các trạm y tế xã của huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2021.
Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực trạng quản lý bệnh tăng huyết áp tại các trạm y tế xã của huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính của đề cƣơng 1. Khái niệm chính Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế (11).
Cung cấp dịch vụ sức khỏe là khả năng đáp ứng các điều kiện, nguồn lực sẵn sàng của các CSYT tạo nến các DVYT nhằm thỏa mãn nhu cầu CSSK của đối tƣợng đích. Khả năng đáp ứng nhu cầu CSSK của các cơ sở y tế (CSYT) bao gồm các yếu tố: Nhân lực y tế về cả số lƣợng và chất lƣợng; các điều kiện đảm bảo dịch vụ y tế (DVYT) gồm cơ sở vật chất (CSVC) và hạ tầng.; trang thiết bị (TTB) y tế (thuốc, hóa chất, dụng cụ.); ngân sách y tế (bao gồm ngân sách của nhà nƣớc, địa phƣơng và nguồn ngân sách xã hội hóa.); cơ chế, chính sách 1. Khái niệm và phân loại tăng huyết áp Huyết áp là số đo về lực tác động của máu lên thành động mạch. Huyết áp phụ thuộc vào lực bơm máu của tim, thể tích máu đƣợc bơm, kích thƣớc cũng nhƣ độ đàn hồi của thành động mạch.
Ở ngƣời lớn tuổi khi đo huyết áp tâm thu >140mmHg và huyết áp tâm trƣơng >90mmHg thì đƣợc gọi là tăng huyết áp hệ thống động mạch (12). Hội THA thế giới cùng với WHO đã qui định huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên đƣợc gọi là THA (HATT >140 hoặc HATTr > 90) (3). Hội THA thế giới cùng với WHO đã qui định huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên đƣợc gọi là THA (HATT >140 hoặc HATTr > 90) (12). Phân loại THA theo quyết định mới nhất số 5904/QĐ-BYT về Tài liệu chuyên môn “Hƣớng dẫn chẩn đoán, điều trị và quản lý một số bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã" năm 2019 của Bộ Y tế nhƣ sau: 5 Bảng 1.
Phân loại HA ở ngƣời > 18 tuổi HA tâm thu HA tâm trƣơng (mmHg) (mmHg) HA tối ƣu <120 Và <80 HA bình thƣờng 120 - 129 Và/ Hoặc 80 - 84 Tiền THA 130 - 139 Và/ Hoặc 85 - 89 THA độ 1 140 - 159 Và/ Hoặc 90 - 99 THA độ 2 160 - 179 Và/ Hoặc 100 - 109 THA độ 3 > 180 Và/ Hoặc > 110 1. Khái niệm liên quan tới cung cấp dịch vụ của hệ thống Y tế Năng lực (capacity) cung cấp dịch vụ CSSK tại TYT đƣợc xác định dựa vào sự sẵn sàng và sẵn sàng đáp ứng các yếu tố nhƣ: i) nhân lực, ii) thuốc, trang thiết bị và kỹ thuật; iii) hoạt động/dịch vụ; iv) thông tin, báo cáo; và vi) tài chính. Yếu tố chính sách, quản lý và điều hành cũng ảnh hƣởng đến những năng lực này (13). Chức năng của y tế cơ sở trong quản lý bệnh không lây nhiễm Theo mô hình quản lý các BKLN quốc gia, Trạm Y tế có các chức năng sau: 1.
Truyền thông, giáo dục sức khỏe về bệnh và các yếu tố nguy cơ của bệnh 2. Sàng lọc để phát hiện sớm ngƣời có BKLN (dựa trên các phƣơng pháp chẩn đoán nhanh); 3. Chẩn đoán và điều trị BKLN 4. Quản lý bệnh nhân BKLN và những ngƣời có nguy cơ cao (có hồ sơ, bệnh án để khám, tƣ vấn và điều trị định kỳ, riêng đối với bệnh nhân ung thƣ có thêm hoạt động chăm sóc, giảm nhẹ); 5.
Chuyển bệnh nhân có biến chứng hoặc kháng thuốc lên tuyến trên. Tình hình dịch tễ học bệnh tăng huyết áp qua các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình hình dịch tễ học bệnh tăng huyết áp trên thế giới Hiện nay, các BKLN là thách thức của toàn cầu và đang là gánh nặng rất lớn đối với xã hội và hệ thống y tế trong quản lý và điều trị (14). Ở nhiều quốc gia, các BKLN chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số gánh nặng bệnh đƣợc đo bằng DALYs (15, 16).
Tử vong do các BKLN luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hƣớng tăng lên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Năm 2018, BKLN tăng gần 40% so với năm 1990 và gây ra 41 triệu ca tử vong và chiếm 71% tổng các trƣờng hợp tử vong trên toàn cầu (15), (17). Năm trong 10 nguyên nhân tử vong chính toàn cầu là BKLN, dù chỉ 3 trong 10 nguyên nhân tử vong sớm (tử vong sớm đƣợc đo bằng số năm sống mất đi do tử vong sớm - YLL) là do BKLN (bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim và đái tháo đƣờng) (18). Tính trong nhóm các BKLN, các bệnh tim mạch chiếm phần lớn với 17,9 triệu ngƣời tử vong mỗi năm, tiếp theo là ung thƣ (9 triệu), bệnh hô hấp (3,9 triệu) và tiểu đƣờng (1,6 triệu) (15).
Hiện nay các BKLN thƣờng bị hiểu nhầm chỉ là vấn đề sức khỏe của các nƣớc có thu nhập cao. Trong khi đó, gánh nặng của các bệnh này ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình, thậm chí còn cao hơn so với các nƣớc có thu nhập cao (15). Theo thống kê của WHO, năm 2015 tỷ lệ THA ở ngƣời lớn từ 18 tuổi trở lên là khoảng 22% (3). Tỷ lệ mắc THA khác nhau giữa các khu vực, cao nhất ở khu vực Châu Phi với cả hai giới là 30% và thấp nhất là ở khu vực Châu Mỹ là 18%.
Trong tất cả các khu vực thì tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn so với nữ giới, tỷ lệ THA ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình cao hơn so với các nƣớc có thu nhập cao (3). Năm 2013, ở khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ ngƣời trƣởng thành mắc THA là khoảng 35%. Hàng năm, số tử vong do THA đƣợc ƣớc tính là gần 1,5 triệu ngƣời (9,4%) (19). Số liệu thống kê của một số quốc gia cho thấy tỷ lệ THA cao nhƣng tỷ lệ ngƣời bệnh đƣợc quản lý và kiểm soát huyết áp còn thấp.
Nhƣ tại Ấn Độ, năm 2013, tỷ lệ THA là 29,8%.