CHƯƠNG 1: TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Khái niệm về mô hình bệnh tật Mô hình bệnh tật là tỉ lệ các nhóm bệnh tật của một khu vực địa lý nhất định trong một giai đoạn thời gian cụ thể. Từ mô hình bệnh tật người ta có thể xác định được các bệnh tật phô biến nhất cho định hướng chiến lược về y tế cũng như xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh tật trong từng khu vực cụ thé (4-6). 12 Phân loại bệnh tật 1.1 Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật Theo các phân loại này bệnh tật được chia thành 3 nhóm chính: - Bénh lay - Bệnh không lây - Tai nạn, ngộ độc, chấn thương Cách phân loại này cho ta cái nhìn bao quát, tổng thể mô hình bệnh tật ở mỗi quốc gia, mỗi vùng miền địa lý, nó mang tính chất xác định xu hướng phát triển của bệnh tật. Nhìn vào mô hình bệnh tật này chúng ta sơ bộ đánh giá được sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vùng miền (7-10).
Cách phân loại này số liệu đơn giản, tương đối chính xác do số liệu đủ lớn. Nó rất thích hợp cho việc so sánh giữa các quốc gia, các vùng miền cũng như có cái nhìn bao quát chung về mô hình bệnh tật của một đất nước, là một số chỉ tiêu đánh gia su phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vùng miền đó. Nó có tính chất dự báo xu hướng bệnh tật trong tương lai và giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể để hoạch định chính sách tầm vĩ mô (7-10).2 Phân loại bệnh tật theo tỉ lệ mắc và chết cao nhất Đặc điểm cơ bản của phân loại này là đưa ra tên bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất, có thể phân chia theo từng lứa tuổi tùy thuộc tác giả hoặc tùy thuộc yêu cầu nghiên cứu. Cách phân loại này đưa ra thứ tự các bệnh thường gặp cũng như mức độ nguy hiểm của một số bệnh dựa trên tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong, từ đó có những chính sách đầu tư thích hợp nhằm can thiệp làm giảm tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong.
Đây là cách phân loại đơn giản, dễ thực hiện, dễ áp dụng nhất là những nơi có mật độ dân số thấp, số lượng khám chữa bệnh không đủ lớn để phân loại chi tiết, những nơi chưa quản lý cơ sở đữ liệu bằng máy tính. Nhược điểm của các phân loại này không cho chúng ta nhìn toàn diện về mô hình bệnh tật, không đánh giá được chính xác sự tiến triển và biến động của mô hình bệnh tật (8-12).3 Phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu Một số chuyên khoa còn có các cách phân loại khác mang tính chuyên sâu nhưng thường chỉ áp dụng ở một số nước có nền y học phát triển và trình độ khoa học kỹ thuật cao do tính chất phức tạp của chân đoán: Phân loại Ung thư Quốc tế (ICD-O), Phân loại Rối loạn tâm thần và hành vi (ICD-10), Phân loại Quốc tế về chức năng khuyết tật và sức khỏe cho trẻ em, thanh niên (ICF-CY),. Ở Việt Nam gần đây cũng có một số nghiên cứu bước đầu đề cập đến phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu như nghiên cứu của Đặng Thanh Tùng và cộng sự được thực hiện tại Viện sức khỏe tâm thần năm 201 1 (12); nghiên cứu của Đoàn Văn Chính về xu hướng biến đổi của bệnh lý huyết học được thực hiện tại Viện Huyết học — truyền máu Trung ương giai đoạn 2010-2014 (4).4 Phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề liên quan đến sức khỏe (International Classification of Diseases — ICD) Phan loai bénh tat quéc té dau tién duoc chap nhận đã được Ủy ban của Viện Thống kê quốc tế do Jacques Bertillon (1851 — 1922) đứng đầu chuẩn bị, bao gồm 161 tiêu đề. Đó là sự tổng hợp từ các bảng phân loại của Anh, Đức, Thụy Sĩ trên nguyên tắc của Farr đưa ra là phân biệt bệnh nói chung và bệnh của cơ quan đặc biệt hoặc vị trí cơ thể.
Phân loại này được goi là phân loại Bertillon về nguyên nhân của cái chết, được đưa ra vào năm 1983 tại Hội thảo do Viện nghiên cứu tô chức tại Chicago. Phân loại Bertillon hiệu đính lần đầu tiên vào năm 1900 và sau đó nó lại được hiệu đính lại vào các năm 1909, 1920, 1929, 1938. Mục đích ban đầu của phân loại Bertillon là đưa ra các nguyên nhân tử vong được duy trì cho tới lần sửa đổi thứ 5 vào năm 1938 (7), (8), (13), (14), (15). Từ lần hiệu đính thứ 6 trở đi vào năm 1946, WHO trực tiếp chỉ đạo việc hiệu đính.
Lần hiệu đính thứ 6 chính thức thiết lập Danh sách quốc tế về nguyên nhân bệnh, thông qua danh sách toàn bộ cho cả tử vong và bệnh, kiến nghị một chương trình toàn điện về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê quốc tế sức khỏe. Phân loại chính thức được đưa ra sử dụng ở nhiều nước (14), (15). Trong quá trình phát triển, phân loại này đã được đổi tên vài lần và ngày nay được gọi tên chính thức là Phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan - International Classification of Diseases (goi tắt là ICD) (14), (15). Hệ thống phân loại này giúp chúng ta có một mô hình bệnh tật đầy đủ, chỉ tiết.
Nó giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý có cái nhìn bao quát, toàn diện và cụ thê về mô hình bệnh tật, để từ đó đưa ra các chiến lược, chính sách, giải pháp thích hợp, đánh giá hiệu quả của các chương trình chăm sóc sức khỏe đã và đang triển khai. Nó giúp các bác sỹ lâm sàng có cái nhìn tổng thể mô hình bệnh tật của đơn vị mình công tác. Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin chúng ta có thé dễ dàng xây dựng mô hình bệnh tật theo các cách phân loại đã trình bày ở trên bởi bản thân ICD đã bao hàm các cách phân loại đó (13), (15). Phân loại theo ICD giúp người quản lý dễ dàng so sánh, đánh giá mô hình bệnh tật giữa các quốc gia, các vùng miền, các bệnh viện, từ đó đưa ra các đầu tư đúng đắn cũng như các chương trình hành động thiết thực nhằm cải thiện tình trạng của từng bệnh lý cụ thé, nhất là khi kinh phí chi cho ngành y tế còn eo hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn (13), (15).
Đây là cách phân loại khá chỉ tiết, đòi hỏi người làm công tác thống kê phải có trình độ nhất định đề tránh nhằm lẫn cũng như đòi hỏi bác sĩ lâm sàng cần có chân đoán chính xác, chi tiết. Điều này có thể khắc phục bằng việc nâng cao trình độ cho bác sỹ lâm sàng và đào tạo, tập huấn cho những người trực tiếp mã hóa bệnh (13), (15). Ngày 24/9/2015, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3970/QĐ-BYT về việc ban hành Bảng phân loại thống kê quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe có liên quan phiên bản lần 10 (TCD-10) tập 1 và tập 2, được áp dụng cho các cơ sở khám chữa bênh trong cả nước (13), (15).1 Cấu trúc của ICD-10 - ICD -10 được chia thành 21 chương - Mỗi chương được phân chia thành nhiều nhóm. - Trong mỗi nhóm sẽ bao gồm các bệnh - Mỗi tên bệnh lại được phân loại chỉ tiết hơn theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc thù của bệnh đó (13), (15).2 Bộ mã 4 kí tự Với sự phân chia như trên, bộ mã ICD — 10 được qui định như sau: - Kí tự thứ nhất (chữ cái) mã hóa chương bệnh - Kí tự thứ hai (chữ số thứ nhất) mã hóa nhóm bệnh - Kí tự thứ ba (chữ số thứ hai) mã hóa tên bệnh - Kí tự thứ tư (số thứ tự sau dấu ”.”) mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính chất đặc thù của một bệnh (13), (15).
Trước mắt vì một số lý do về phương diện thống kê, tính chính xác trong chân đoán và để ứng dụng trên phạm vi cả nước, hiện nay tạm thời sử dụng bộ mã 3 kí tự. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thực tế, các chuyên khoa sâu có thể vận dụng hệ thống mã hóa 4 kí tự.3 Một số nghiên cứu về mô hình bệnh tật 1.1 Trên thế giới Mô hình bệnh tật và tử vong phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng nước, gồm 3 hình thái như sau: - __ Các nước chậm phát triển: bệnh truyền nhiễm cao, bệnh mãn tính không truyền nhiễm thấp. - _ Các nước đang phát triển: bệnh truyền nhiễm giảm nhưng vẫn còn cao, bệnh mãn tính không truyền nhiễm tăng cao. - _ Các nước phát triển: bệnh không truyền nhiễm như tim mạch, tiểu đường, bệnh lý người già là chủ yếu, bệnh truyền nhiễm rất ít.
Theo số liệu thống kê của WHO, hơn một nửa số ca tử vong ở các nước có thu nhập thấp trong năm 2016 là do bệnh truyền nhiễm, nguyên nhân mẹ, điều kiện phát sinh trong thai ky va sinh con, thiéu hut dinh dưỡng. Ngược lại, dưới 7% số ca tử vong ở các nước thu nhập cao là do những nguyên nhân như vậy. Nhiễm trùng đường hô hấp dưới là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên tất cả các nhóm thu nhập. Các bệnh không lây nhiễm gây ra 71% tử vong trên toàn cầu, từ 37% ở các nước có thu nhập thấp đến 88% ở các nước có thu nhập cao.
Chấn thương đã cướp đi 4,9 triệu người trong năm 2016. Hơn một phần tư (29%) số ca tử vong do chấn thương giao thông đường bộ. Các nước thu nhập thấp có tỉ lệ tử vong cao nhất do chấn thương giao thông đường bộ với 29,4 ca tử vong trên 100.000 đân - tỉ lệ toàn cầu là 18,8. Thương tích giao thông đường bộ cũng nằm trong số 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước thu nhập thấp, trung bình và trên trung bình (16).
1: Tỉ lệ gánh nặng bệnh tật theo nhóm bệnh chính và khu vực trên Thế giới năm 2016 Don vi: DALYs % Dong Tay Nhóm bệnh Châu | Châu Đông Châu Địa Thái Phi Mỹ Nam A Au Trung Binh Hai Duong Nhóm bệnh lây nhiễm, sức khỏe bà mẹ, bệnh lý thời kỳ Đông Tây Nhóm bệnh Châu | Châu Đông Châu Địa Thái Phi Mỹ Nam A Au Trung Binh Hai Duong chu sinh va dinh 61 12 31 7 35 09 dưỡng Nhóm bệnh không lây nhiễm 29 75 57 83 51 81 Chan thương 10 13 12 10 14 10 Nguồn: WHO, The Global Burden of Disease 2016 (1).