Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này trình bày khái niệm cơ bản về bệnh tim và những điều liên quan, tóm tắt các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó về đề tài này, chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu, đưa ra cơ sở lý luận về những yếu tố có khả năng tác động đến nguy co mắc bệnh tim, từ đó đề xuất các kỹ thuật dự báo phù hợp.1 Một số khái niệm 1.1 Cau tạo hệ tim mạch Hệ thống tim mạch gồm có tim và hệ mạch máu. Đảm nhiệm 3 chức năng chính bao gồm: vận chuyên oxi, chất dinh dưỡng, hormone và các enzyme di nuôi cơ thể, vận chuyền chat thải đến các co quan dé đào thải ra ngoài cơ thé; chức năng bảo vệ: các tế bào miễn dịch và các kháng thể được máu vận chuyển đi khắp cơ thể có nhiệm vụ bảo vệ cơ thê đôi với các yêu tô từ bên ngoài; điêu chỉnh nhiệt độ, pH cơ thê. Trái tim là một khối cơ năm ở giữa 2 lá phổi và trung thất trước với mom tim năm lệch về phía bên trái. Có chức năng hút máu từ tĩnh mạch phổi và tĩnh mach chủ, bơm máu và dộng mạch phối và động mạch chủ.
Trái tim có 4 buông, 2 tâm nhĩ ở trên và 2 tâm thất ở dưới. Buéng nhĩ có thành mong, làm nhiệm vu chứa máu được hut về từ tĩnh mạch phổi va tinh mach chủ, 2 tâm nhĩ được ngăn cách nhau bởi vách ngăn liên nhĩ. Buông thất có thành dày hơn, có nhiệm vụ cung cấp lực đây để bơm máu từ tim vào mạch máu, 2 tâm thất được ngăn cách với nhau bởi vách liên thất. Hệ thống van tim bao gồm các van ngăn cách giữa nhĩ - thất và giữa thất - động mạch.
Các van tim có nhiệm vụ điều hướng cho dòng máu chảy trong tim, cho máu chảy một chiều và ngăn máu chảy theo chiều ngược lại.2 Định nghĩa về bệnh tim 11191443 — Nguyễn Thi Hương Giang - Toán Kinh tế 61 || 5 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP - CHUYÊN NGÀNH TOÁN KINH TẾ Sử Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, thuật ngữ “bệnh tim mạch” có thể được sử dụng dé mô ta bat kỳ rối loan của hệ thống tim mach (trái tim và các mạch máu) do bam sinh hoặc mắc phải, có ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tim. Các loại bệnh tim chủ yếu > Bệnh mạch vành Bệnh mạch vành, hay còn gọi là bệnh tim thiếu máu cục bộ là thuật ngữ dùng dé chỉ tình trạng thiếu máu của cơ tim. Biéu hiện của bệnh tim thiếu máu cục bộ là các cơn đau thắt ngực (ôn định hoặc không ồn định), nhồi máu cơ tim hoặc ngưng tim đột ngột do thiếu máu. Tình trạng này gây ra do sự hẹp hoặc tắc lòng động mạch vành, ảnh hưởng đến sự cung cấp máu cho cơ tim.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hẹp mạch vành là do tình trạng xơ vữa động mạch. Ngoài ra, sự hẹp tắc lòng mạch có thê gây ra bởi các yếu tố khác như: bệnh cơ tim phì đại, các khiếm khuyết bam sinh, chan thuong,. > Bệnh tim bẩm sinh Bệnh tim bam sinh là những di tật của cơ tim, van tim, buồng tim xảy ra ngay từ lúc còn trong bảo thai và tồn tại sau sinh. Lúc này, một vài cấu trúc tim sẽ bị khiếm khuyết dẫn đến các hoạt động và chức năng của tim bị ảnh hưởng.
Bệnh lý tim mach bam sinh là di tật phố biến nhất, và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong số những trường hợp di tật bam sinh ở trẻ nhỏ. > Bệnh van tim Bệnh van tim là tình trạng có thể xuất hiện ngay từ khi mới sinh (bẩm sinh) hoặc xảy ra ở người trưởng thành do nhiều nguyên nhân khác nhau, chăng hạn như tình trạng nhiễm trùng và các bệnh tim mạch khác. Các van tim (gồm van 2 lá, van 3 lá, van động mạch phôi và van động mạch chủ) nằm ở lối ra của 4 buồng tim, có nhiệm vụ duy trì dòng máu một chiều qua tim. Bốn van tim đảm bảo rằng máu luôn chảy tự đo theo hướng 11191443 — Nguyễn Thi Hương Giang - Toán Kinh tế 61 || 6 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP - CHUYÊN NGÀNH TOÁN KINH TẾ Sử thuận và không rò rỉ theo chiều ngược lại.
Mỗi van tim có các cánh (lá van) mở và đóng một lần trong mỗi nhịp tim. Nếu một hoặc nhiều van không mở/đóng đúng cách, dòng máu qua tim đến cơ thể sẽ bị gián đoạn, gây ra bệnh lý van tim. > Bệnh mach máu ngoại vi Bệnh mach máu ngoại vi (PVD) là một rỗi loạn tuần hoàn máu khiến các mach máu bên ngoài tim bị thu hẹp, tắc nghẽn hoặc co thắt. Mach máu ton thương có thé xảy ra ở động mạch hoặc tĩnh mạch của người bệnh.
PVD thường gây ra triệu chứng thiếu máu hoặc tắc nghẽn ở đầu chi dẫn đến triệu chứng đau và mệt mỏi, thường ở chân, và đặc biệt là khi tập thé dục. Cơn đau thường cai thiện khi nghỉ ngơi. Các biến chứng do bệnh mạch máu ngoại vi khi không được chan đoán và điều trị có thé nghiêm trọng và thậm chí đe dọa tính mạng. Lưu lượng máu hạn chế của động mạch ngoại biên có thé là dấu hiệu cảnh báo các dạng bệnh mạch máu khác.
Khi chúng bị tắc nghẽn, nó có thể dẫn đến hoại tử chi, đau tim, đột quy hoặc tử vong. > Bệnh thấp tim Thấp tim là bệnh lý viêm tự miễn, xuất hiện sau khi bị nhiễm khuẩn đường họng miệng đo liên cầu khuẩn beta tan huyết nhóm A. Trong vòng 2 - 3 tuần sau khi nhiễm liên cầu vùng hầu họng, nếu không được điều trị đầy đủ và đúng cách, bệnh có thể tiến triển thành thấp tim. Bệnh thấp tim phổ biến ở trẻ 5 - 15 tudi, ty lệ mắc bệnh ở nam nữ là ngang nhau.
Bệnh có thé gây ra những biến chứng nặng nè ở tim, khớp, não và da. Ở tim, thấp tim có thé dé lại những hậu quả kéo dài như viêm tim, dày dính van tim, lâu ngày dẫn tới tốn thương van tim, rối loạn nhịp tim, suy tim, đột quy hay thậm chí tử vong. > Rối loạn nhịp tim Rối loạn nhịp tim là tình trang bất thường về mặt điện học của tim, có thé là bat thường về việc tạo nhịp hoặc bất thường về mặt dẫn truyền điện học trong buông tim và 11191443 — Nguyễn Thị Hương Giang - Toán Kinh tế 61 || 7 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP - CHUYÊN NGÀNH TOÁN KINH TẾ Sử biểu hiện trên lâm sang là: Nhịp quá nhanh (tan số > 100 lần/ phút) hoặc quá chậm (tan số < 60 lần/phút), không đều hoặc lúc nhanh lúc chậm,. Rối loạn nhịp tim có thể không có triệu chứng hoặc chỉ gây ra các triệu chứng như: Cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, cảm giác tim đập nhanh hoặc không đều,.
Tuy nhiên, nhiều trường hợp rối loạn nhịp tim có thé de doa tinh mạng của người bệnh và khiến người bệnh phải nhập viện trong tình trạng cấp cứu. > Suy tim Suy tim là trạng thái bệnh lý đồng thời cũng là biến chứng cuối cùng của các bệnh tim mạch. Suy tim là tình trạng tim bị suy yếu do các tốn thương thực thé hay các rối loạn chức năng tim khiến cho tâm thất không có đủ khả năng tiếp nhận máu hoặc tống máu. Đây được biết đến là một hội chứng lâm sàng phức tạp.
Hệ thống tim mạch của bệnh nhân không thé cung cấp đủ máu cho các tế bào khiến người bệnh mệt mỏi và khó thở, một số người bị ho. Các hoạt động hàng ngày như đi bộ, leo cầu thang hoặc mang vác d6 có thé trở nên khó khăn hơn. Khi bệnh nhân gắng sức, có thé xuất hiện tình trạng ứ dich dẫn đến sung huyết phổi và phù ngoại vi. Phân độ suy tim theo chức năng của Hội Tìm mạch New York (NYHA) được sử dụng dựa vào triệu chứng cơ năng và khả năng găng sức: Không hạn chế - Vận động thé lực thông thường không gây mệt, khó thở hay hồi hộp.
Hạn chế nhẹ vận động thé lực. Bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi; vận động thê lực thông thường dẫn đến mệt, hồi hộp, khó thở hay đau ngực. Hạn chế chiều vận động thê lực. Mặc dù bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi nhưng chỉ cần vận động nhẹ đã có triệu chứng cơ năng.
Không vận động thé lực nào không gây khó chịu. triệu chứng cơ năng của suy tim xảy ra ngay khi nghỉ ngơi, chỉ một vận động thể lực nhẹ cũng làm triệu chứng cơ năng gia tăng. Phan độ suy tim theo chức nang của NYHA 11191443 — Nguyễn Thi Huong Giang — Toán Kinh tế 61 || 8 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP - CHUYÊN NGÀNH TOÁN KINH TẾ Sử 1⁄2 Cơ sở lý luận Trong phân nay, bài việt sẽ dé cập đên các yêu tô ảnh hưởng đên việc dự báo nguy cơ mac bệnh tim.1 Các triệu chứng Bệnh tim thường diễn tiến âm thầm, các trường hợp bệnh nhẹ thường không có triệu chứng hoặc những triệu chứng không biểu hiện rõ ràng. Khi các bất thường bắt đầu ảnh hưởng đến hoạt động của tim hay các co quan khác thì các triệu chứng mới dan trở nên rõ rệt hơn.
Tùy vào bệnh lý người bệnh mắc phải và mức độ bệnh mà các triệu chứng cũng biểu hiện đa dạng, thường gặp nhất là: Khó thở Các van đề tim mạch như hẹp van động mạch phổi, suy tim,. có thể khiến cho lượng máu giàu oxy giảm. Người bệnh thường xuyên cảm thấy khó thở như có vật gì đè lên ngực. Triệu chứng này càng rõ rệt hơn khi bệnh nhân hoạt động gắng sức hoặc năm xuống.
Đặc biệt có thê nghiêm trọng hơn vào ban đêm, khi bệnh nhân đang ngủ. Vì khi đó tim có thé đột ngột bị giảm khả năng co bóp, quá trình bơm máu từ tim đến phổi bi gián đoạn gây khó thở. Nhiều trường hợp bệnh nhân gặp tình trạng này ngay cả khi không gắng sức. Thậm chí gặp khó khăn trong việc kiểm soát hơi thở ngay khi chỉ mới hít thở sâu.
Tức ngực Đây là triệu chứng bệnh tim mạch thường gặp nhất, đặc biệt là ở các bệnh nhân mắc bệnh mạch vành. Các chuyên gia tim mạch cho biết, khoảng 90% cơn đau ngực là do bệnh mạch vành. Bởi khi đó tế bào cơ tim không được nhận đủ oxy vì lượng máu tới tim bị giảm. Người bệnh có thể cảm giác bị đè nặng ở ngực, đau nhói ngực hay đau thắt ngực ở phan dưới xương ức.
Cảm giác đau thường theo cơn, mỗi lần kéo dai từ vài đến vài 11191443 — Nguyễn Thi Hương Giang - Toán Kinh tế 61 || 9 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP - CHUYÊN NGÀNH TOÁN KINH TẾ Sử chục phút.