ĐẶT VẤN ĐỀ Hen phế quản (thường gọi là hen) là một trong các bệnh hô hấp thường gặp trên thế giới cũng như ở nước ta. Bệnh ảnh hưởng đến tất cả các nhóm tuổi và là vấn đề sức khỏe toàn cầu [24]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: World health Organization) hen phế quản ảnh hưởng tới khoảng 300 triệu người trên toàn thế giới tính đến năm 2005, ước tính đến năm 2025 sẽ có khoảng 400 triệu người mắc bệnh. Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra dịch tễ năm 2010 ghi nhận mức độ lưu hành hen ở người trưởng thành là 4,1%, trong đó, tỷ lệ mắc hen ở nam giới là 4,6%, cao hơn ở nữ giới 3,6% [3].
Mặc dù đã có nhiều phương pháp điều trị nhưng các số liệu cho thấy việc kiểm soát hen ở bệnh nhân vẫn còn ở mức thấp. Theo thống kê năm 2016 của Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Hoa Kỳ (the Centers for Disease Control and Prevention - CDC), có hơn 26 triệu người mắc bệnh hen - chiếm 8,3% dân số Mỹ, tuy nhiên trong đó số đó có hơn 12 triệu người (46,9%) bị một hay hơn một cơn hen cấp trong năm. Số lần bệnh nhân vào cơn hen cấp phải nhập cấp cứu trong năm 2015 là 1,7 triệu lần. Tỷ lệ tử vong vì hen trong năm 2016 là 10% [42].
Gánh nặng kinh tế của bệnh hen phế quản là rất lớn, ước tính chi phí cho bệnh hen tại Mỹ khoảng 56 tỷ đô la/năm, trung bình mỗi năm phải chi trả 3.300 đô la cho một bệnh nhân hen phế quản để chăm sóc y tế, mất khả năng lao động và tử vong sớm [31]. Yếu tố cốt lõi của vấn đề này là bác sĩ lẫn bệnh nhân chưa đánh giá đúng mức độ kiểm soát và điều trị hen. Vì vậy, Sáng Kiến Toàn Cầu về Hen (GINA: Global Initiative for Asthma) đã được thành lập năm 1993 để tăng cường nhận thức về bệnh hen giữa các chuyên gia y tế, nhà chức trách y tế công cộng và cộng đồng với mục đích cải thiện việc dự phòng và quản lý hen thông qua một nỗ lực phối hợp trên toàn thế giới. Chiến Lược Toàn Cầu về Xử trí và Dự Phòng Hen đã được sửa đổi sâu rộng vào năm 2014 để cung cấp một cách tiếp cận toàn diện và thích hợp để xử trí hen có thể phù hợp với điều kiện địa phương và từng bệnh nhân [26].
Trong chiến lược này, kế hoạch hành động hen là một chiến lược quan trọng để giúp các bệnh nhan kiểm soát hen được tốt hơn [24]. Kế hoạch hành động hen bao gồm: (1) liệt kê các thuốc hen thường dùng của bệnh 2 nhân, (2) hướng dẫn khi nào và làm thế nào để tăng thuốc và bắt đầu dùng corticoid uống (OCS), (3) làm thế nào để tiếp cận chăm sóc y tế nếu các triệu chứng không đáp ứng. Kế hoạch hành động có thể dựa vào triệu chứng và/hoặc lưu lượng đỉnh PEF (ở người lớn). Việt Nam là thành thành viên của của GINA từ năm 2001.
Việc áp dụng chiến lược quản lý hen toàn cầu của GINA vào điều trị bệnh hen phế quản tại Việt Nam có ý nghĩa rất lớn đến công tác điều trị, giúp nâng cao việc kiểm soát và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hen [25]. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Trần Thúy Hạnh cũng ghi nhận chỉ có 39,7% bệnh nhân đạt được kiểm soát hen [3]. Điều này cho thấy thực trạng kiểm soát hen vẫn còn hạn chế, nhiều bệnh nhân chưa được quản lý hay đang được quản lý hen tại các trung tâm hô hấp nhưng vẫn có nhiều cơn hen tái phát làm ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, tăng chi phí điều trị, tăng tỷ lệ nhập viện cấp cứu và tăng tỷ lệ tử vong. Tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, từ khi thành lập phòng quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) năm 2007 đến nay hơn 10 năm đã quản lý được trên 3.621 bệnh nhân hen phế quản.
Hầu hết các bệnh nhân đều được điều trị và theo dõi đầy đủ theo hướng dẫn của GINA. Tuy nhiên, thống kê hằng năm tại bệnh viện cho thấy, có khoảng 500 ca nhập cấp cứu vì cơn hen cấp, 300 ca hen điều trị nội trú tại khoa nội hô hấp, 50 trường hợp hen phế quản phải điều trị tại khoa chăm sóc tích cực. Vấn đề này đặt ra cho các nhà quản lý câu hỏi thực trạng kiểm soát hen của bệnh nhân hen phế quản được quản lý tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định như thế nào và các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát hen từ góc độ người cung cấp dịch vụ y tế - đó là từ góc độ bệnh viện như: nguồn nhân lực của phòng khám quản lý hen trong việc đảm bảo tư vấn đầy đủ cho bệnh nhân, quy trình nhắc nhở bệnh nhân về tuân thủ điều trị, tự theo dõi và kiểm soát hen tại nhà, việc tổ chức phòng khám trong vấn đề theo dõi liên tục để đảm bảo bệnh nhân được thông tin tư vấn kịp thời,. Đó là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát hen ở bệnh nhân hen phế quản tại Phòng Quản lý hen và COPD, BV Nhân dân Gia Định năm 2019.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng kiểm soát hen ở bệnh nhân hen phế quản tại Phòng Quản lý hen và COPD, BV Nhân dân Gia Định năm 2019. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát hen ở bệnh nhân hen phế quản sau khi thử nghiệm triển khai “Kế hoạch hành động hen” tại Phòng Quản lý hen và COPD, BV Nhân dân Gia Định năm 2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Hen phế quản và nguyên tắc điều trị hen phế quản 1. Hen phế quản 1. Định nghĩa Hen phế quản là một bệnh có nhiều biến thể (không đồng nhất), thường được đặc trưng bởi tình trạng viêm đường hô hấp mạn tính. Hen có đặc điểm về bệnh sử của các triệu chứng hô hấp như thở khò khè, khó thở, nặng ngực và ho thay đổi theo thời gian và cường độ, kết hợp với giới hạn dòng khí thở ra biến đổi [1].
Các triệu chứng hô hấp và sự giới hạn luồng khí thở ra có thể tự hết hay nhờ điều trị. Bệnh nhân hen có thể không có triệu chứng nhiều tuần, nhiều tháng hoặc có thể vào cơn hen cấp đe dọa tính mạng và là gánh nặng cho gia đình, ngành y tế cũng như cho cộng đồng. Hen phế quản cũng liên quan đến tình trạng tăng nhạy cảm của đường thở trực tiếp hay gián tiếp với các kích thích (dị nguyên) và với tình trạng viêm mạn tính đường thở. Các yếu tố này thường tồn tại dai dẳng ngay cả khi không có triệu chứng hay chức năng hô hấp bình thường, nhưng có thể hết khi được điều trị.
Các kiểu hình thường gặp của hen (phenotype) như: hen dị ứng, hen không dị ứng, hen khởi phát trễ, hen kèm tắc nghẽn đường dẫn khí cố định, hen kèm béo phì [24]. Chẩn đoán Tiêu chuẩn lâm sàng chẩn đoán hen [25] - Tiền sử có các triệu chứng hô hấp thay đổi: Các triệu chứng điển hình là thở khò khè, khó thở, nặng ngực và ho. Thông thường người bị hen có nhiều hơn một trong các triệu chứng này - Các triệu chứng xảy ra thay đổi theo thời gian và cường độ - Các triệu chứng thường xảy ra hoặc xấu hơn vào ban đêm hay lúc thức giấc - Các triệu chứng thường khởi phát khi tập thể dục, cười lớn, tiếp xúc các dị nguyên hoặc không khí lạnh 5 - Các triệu chứng thường xảy ra hay trở nên xấu đi khi nhiễm siêu vi. Tiêu chuẩn cận lâm sàng: bằng chứng giới hạn luồng khí thở ra thay đổi [25] - Ít nhất một lần trong quá trình chẩn đoán có FEV1 thấp, chứng cứ cho thấy tỷ lệ FEV1/FVC bị giảm.
Tỉ lệ FEV1/FVC bình thường lớn hơn 0,75 - 0,80 đối với người lớn và hơn 0,90 đối với trẻ em. - Bằng chứng cho thấy có sự thay đổi chức năng hô hấp cao hơn ở người khỏe mạnh. Ví dụ: FEV1 tăng hơn 12% và 200ml (ở trẻ em, >12% giá trị dự đoán) sau khi hít thuốc giãn phế quản. Được gọi là “giãn phế quản hồi phục”.
Trung bình hằng ngày PEF thay đổi >10% (ở trẻ em, >13%). FEV1 tăng hơn 12% và 200ml so với giá trị ban đầu (ở trẻ em, >12% giá trị dự đoán) sau 4 tuần điều trị chống viêm (ngoài các đợt nhiễm trùng hô hấp). - Sự thay đổi càng lớn, hoặc số lần thay đổi vượt mức được phát hiện càng nhiều thì việc chẩn đoán hen càng chắc chắn hơn. - Việc thăm dò nên được lặp lại trong khi xảy ra các triệu chứng, vào sáng sớm hay sau khi ngưng sử dụng các thuốc giãn phế quản.
- Tính giãn phế quản hồi phục có thể không thấy trong cơn hen kịch phát nặng hay nhiễm siêu vi. Nếu tính giãn phế quản hồi phục không có ở thăm dò lần đầu, thì bước thăm dò tiếp theo phụ thuộc vào tính cấp bách lâm sàng và sự sẵn có của các thăm dò khác. Đánh giá bệnh nhân hen ● Kiểm soát hen: đánh giá cả việc kiểm soát triệu chứng và yếu tố nguy cơ[24] - Đánh giá việc kiểm soát triệu chứng trong vòng 4 tuần qua (Mục 1. - Xác định các yếu tố nguy cơ dẫn đến hen kết cục xấu (Mục 1.
- Đo chức năng hô hấp trước khi điều trị, 3-6 tháng sau và định kỳ. ● Vấn đề điều trị [24] - Ghi lại điều trị của bệnh nhân và hỏi về các tác dụng phụ. - Hướng dẫn, quan sát bệnh nhân sử dụng bình thuốc hít, kiểm tra kỹ thuật dùng thuốc. 6 - Thảo luận cởi mở và đồng cảm về tuân thủ điều trị.
- Kiểm tra bệnh nhân có bảng kế hoạch hành động cho hen. - Hỏi người bệnh về quan điểm và mục tiêu của họ đối với bệnh hen ● Bệnh đồng mắc [24] - Các bệnh bao gồm viêm mũi, viêm mũi xoang, trào ngược dạ dày thực quản (GERD), béo phì, ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, trầm cảm và lo âu. - Bệnh kèm theo nên cần được xác định vì chúng có thể góp phần làm tăng các triệu chứng hô hấp và làm giảm chất lượng cuộc sống. Đánh giá mức độ kiểm soát triệu chứng hen Có thể đánh giá việc kiểm soát hen theo bảng mức độ kiểm soát triệu chứng của GINA 2018 (bảng 1.
Cả hai phương pháp đều dựa vào phỏng vấn bệnh nhân về triệu chứng hô hấp trong 4 tuần qua. ACT sử dụng 5 câu hỏi và bệnh nhân tự cho điểm từ 1 đến 5 theo mức độ triệu chứng.