CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nguồn nhân lực Thuật ngữ “nguồn nhân lực” lần đầu tiên được đặt ra vào những năm 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi cơ bản về phương thức quản lý và sử dụng con người trong nền kinh tế. Wright, McMahan và McWilliams (1994) lập luận rằng nguồn nhân lực là nguồn vốn con người trong một mối quan hệ làm việc trực tiếp để đảm bảo rằng nó được sử dụng một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu nào đó.
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2019) do PGS. Trần Xuân Cầu chủ biên, nhân lực được định nghĩa là “sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.” Qua đó, tác giả rút ra khái niệm nguồn nhân lực là “nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.” Còn theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nguyễn Tiệp (2008) chủ biên, “nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bổ vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”. Hay trong sách “Human Resource Management” của Gary Dessler, “nguồn nhân lực là tập hợp các nhân viên, quản lý và chuyên gia làm việc trong một tổ chức”. Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), nguồn nhân lực là “tập hợp các cá nhân, đội nhóm và tổ chức hoạt động trong một môi trường nhất định”.
Các định nghĩa này đều xoay quanh việc xem nguồn nhân lực là nhóm người cùng hoạt động trong một phạm vi, một lĩnh vực. Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa: “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới 7 dạng tiềm năng của con người”. Nguồn nhân lực ở khía cạnh này được xem xét dựa trên phương diện chất lượng, vai trò cũng như sức lực của con người trong sự phát triển của xã hội. Nick Moore (2008) cũng xem nguồn nhân lực “là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động”.
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được xem là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Qua đây, có thể khái quát nguồn nhân lực dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại và tương lai. Sức mạnh này được thể hiện qua chất lượng và số lượng của con người với đủ điều kiện tham gia vào nền kinh tế sản xuất. Chất lượng nguồn nhân lực Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) thì “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”.
Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động Xã hội do PGS.TS Nguyễn Tiệp chủ biên in năm 2005 thì “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ảnh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống của dân cư”. Theo Sredl và Rothwell (1997), chất lượng nguồn nhân lực ở đơn vị được thiết kế và thực hiện với mục tiêu nâng cao kết quả thực hiện công việc và cải thiện điều kiện con. Theo Bùi Văn Nhơn (2006), chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực. 8 Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, phản ánh các thuộc tính về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động, được biểu hiện thông qua thể lực, kiến thức, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức và tác phong làm việc.
Phân loại nguồn nhân lực y tế Theo Báo cáo Sức khỏe Thế giới của WHO (2006), nguồn nhân lực y tế hay nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe hoặc lực lượng lao động chăm sóc sức khỏe được định nghĩa là "tất cả những người tham gia vào các hoạt động với mục đích chính là nâng cao sức khỏe". Ở Việt Nam, nguồn nhân lực y tế bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế trong biên chế và ký kết hợp đồng làm việc trong hệ thống y tế, đào tạo y tế, các cơ sở nghiên cứu cũng như trong các chuỗi cung ứng và quản lý dịch vụ y tế. Nguồn nhân lực y tế là một trong những trụ cốt chính của hệ thống y tế và được phân loại theo nhiều nhóm dựa trên mục đích và phạm vi nghiên cứu. Dựa trên trình độ học vấn: Bác sĩ: có trình độ đại học chuyên ngành y hoặc đào tạo tương đương.
Điều dưỡng viên: có trình độ đại học hoặc trung cấp chuyên ngành điều dưỡng. Y sĩ: có trình độ cao đẳng chuyên ngành y hoặc đào tạo tương đương. Hộ lý: có trình độ trung cấp hoặc cao đẳng chuyên ngành hộ lý. Dựa trên vị trí công tác: Các chuyên gia y tế đang làm việc tại các cơ sở y tế công cộng.
Các chuyên gia y tế đang làm việc tại các cơ sở y tế tư nhân. Các chuyên gia y tế đang làm việc tại các trung tâm nghiên cứu y tế. Các chuyên gia y tế đang làm việc trong các tổ chức phi chính phủ. Dựa trên tính chất: 9 Những người làm việc trực tiếp cung cấp dịch vụ trong ngành y tế bao gồm các bác sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh, nha sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế cộng đồng, nhân viên y tế xã hội và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác.
Nhân viên hỗ trợ và quản lý sức khỏe – những người không cung cấp dịch vụ y tế trực tiếp bao gồm quản lý dịch vụ y tế, kỹ thuật viên hồ sơ y tế và thông tin sức khỏe, nhà kinh tế học sức khỏe, quản lý chuỗi cung ứng sức khỏe, thư ký y khoa,… Ở bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu nguồn nhân lực y tế theo như định nghĩa của Tổng cục thống kê Việt Nam bao gồm “nhân lực ở ngành y và ngành dược. Đây là toàn bộ những người hiện đang làm việc tại các cơ sở y tế (kể cả y tế công và y tế tư nhân) có trình độ đào tạo chuyên môn về y tế trong thời gian ít nhất là ba tháng bao gồm bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, hộ lý, dược sĩ, dược tá và kỹ thuật viên”. Vai trò của nguồn nhân lực y tế đối với sự phát triển đất nước Nhân lực được xem như nguồn vốn và là động lực trực tiếp của tăng trưởng kinh tế. Đây được xem là một nguồn lực mang tính chiến lược và cần đầu tư lâu dài bởi trong hoàn cảnh xã hội hiện tại vì các nguồn vốn về tài nguyên, công nghệ, vốn vật chất là có hạn trong khi vốn con người là vô hạn.
Khi đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực và khai thác đúng cách sẽ tạo ra nhiều thặng dư cho xã hội và đưa nền kinh tế phát triển. Nguồn lực y tế giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho toàn dân. Bên cạnh vốn, dược phẩm, thiết bị và công nghệ, y tế và nhân viên y tế là nguồn lực cốt lõi trong bất kỳ hệ thống y tế nào vì họ là những người có khả năng ngăn ngừa bệnh tật, tiến hành điều trị và chữa bệnh, đồng thời khám phá và phát minh ra các loại thuốc và vắc-xin mới. Theo WHO, đây là một trong những thành phần cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống y tế.
Nguồn nhân lực y tế có thể tham gia vào việc lập kế hoạch, phát triển và thực hiện các yêu cầu đặt ra trong ngành y tế. Vì vậy, có thể khẳng định rằng mỗi quyết định của nhân viên y tế như chỉ định xét nghiệm, kê đơn thuốc hay mô tả danh sách trang thiết bị sẽ có tác động đáng kể 10 đến hiệu suất chung của hệ thống y tế (Chen và các cộng sự 2004; Girma & các cộng sự, 2007). Khung lý thuyết về hệ thống y tế Nguồn: WHO (2007) Có một mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa nguồn nhân lực y tế và số lượng dịch vụ y tế được cung cấp cho cộng đồng cũng như tỷ lệ sống sót của con người. Khi số lượng cán bộ y tế càng cao, các dịch vụ y tế như tiêm chủng, khám chữa bệnh cho cộng đồng càng cao và khả năng sống sót của người dân cũng càng cao.
Các nghiên cứu liên quan 11 1. Một số nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực y tế rất được các nhà khoa học, tác giả quan tâm thực hiện nghiên cứu. Nguồn nhân lực nói chung và nhân lực y tế nói riêng đóng góp vai trò quan trọng trong việc phát triển đất nước và đảm bảo sức khỏe toàn dân. Vì vậy, có không ít đề tài tiêu biểu nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực được thực hiện.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Thùy (2023) với đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành Y tế Việt Nam” đã phân tích những ưu khuyết điểm của nguồn nhân lực y tế Việt Nam và đưa ra các các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực y tế trong tương lai. Tác giả thấy rõ được những vấn đề còn tồn đọng của nguồn nhân lực y tế trong bối cảnh hiện tại, đặc biệt là trong đại dịch Covid-19 để thấy rõ tầm quan trọng trong việc thực hiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này để đảm bảo mục tiêu thực hiện bao phủ sức khỏe toàn dân.