Ảnh hưởng kinh tế vĩ mô tới quỹ bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam - Lê Thành Công

Dưới đây là meta tags cho bài viết 'Ảnh hưởng kinh tế vĩ mô tới quỹ bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam': { "ai_description": "Tìm hiểu ảnh hưởng của kinh tế vĩ

Trường đại học

Đại học Bách Khoa Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

178
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quỹ bảo hiểm thất nghiệp và nhân tố kinh tế vĩ mô

Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là chính sách an sinh xã hội cốt lõi, giúp người lao động ổn định cuộc sống khi mất việc làm. Ở Việt Nam, quỹ BHTN vận hành theo nguyên tắc tự cân đối giữa thu và chi. Điều này có nghĩa là số tiền thu từ người lao động và người sử dụng lao động phải đủ để chi trả các chế độ thất nghiệp. Các nhân tố kinh tế vĩ mô đóng vai trò quyết định đến sự cân đối này. Tổng sản phẩm trong nước (GDP), tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái đều tác động trực tiếp đến dòng tiền vào và ra của quỹ. Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, số người tham gia BHTN tăng, nguồn thu dồi dào. Ngược lại, khi suy thoái xảy ra, thất nghiệp gia tăng, chi trả bảo hiểm tăng vọt trong khi thu bị thu hẹp. Luận án tiến sĩ của Lê Thành Công (2021) tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã hệ thống hóa các nhân tố này, xây dựng mô hình đánh giá ảnh hưởng của chúng đến thu-chi quỹ BHTN trong điều kiện tự cân đối tại Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị học thuật cao,填补了国内研究空白。

1.1. Khái niệm và vai trò của quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam

Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là quỹ tài chính chuyên biệt, hình thành từ đóng góp bắt buộc của người lao động và người sử dụng lao động. Quỹ thực hiện ba chức năng chính: trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm và hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động. Tại Việt Nam, Luật Việc làm năm 2013 quy định rõ cơ chế vận hành quỹ theo nguyên tắc tự cân đối. Nhà nước không cấp bù ngân sách khi quỹ thâm hụt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải dự báo chính xác dòng thu-chi. Mức đóng hiện tại là 1% lương từ mỗi bên. Tổng mức đóng là 2% tiền lương tháng của người lao động. Quỹ do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý và đầu tư tăng trưởng.

1.2. Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến thu chi quỹ BHTN

Nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô tác động trực tiếp và gián tiếp đến thu-chi quỹ BHTN. Tăng trưởng GDP ảnh hưởng đến quy mô lao động tham gia, từ đó quyết định nguồn thu. Tỷ lệ thất nghiệp tác động trực tiếp đến chi trả trợ cấp. Lạm phát làm giảm giá trị thực của quỹ và ảnh hưởng đến mức lương đóng góp. Lãi suất tác động đến hiệu quả đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi của quỹ. Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gián tiếp tác động đến thu. Ngoài ra, cơ cấu kinh tế, mức lương tối thiểu vùng và quy mô dân số trong độ tuổi lao động cũng là những nhân tố quan trọng cần được xem xét trong mô hình phân tích.

II. Phân tích thực trạng thu chi quỹ BHTN và thách thức tự cân đối

Thực tế vận hành quỹ BHTN tại Việt Nam cho thấy nhiều vấn đề đáng quan ngại về tính bền vững. Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng ổn định, quỹ BHTN liên tục có thặng dư lớn. Số dư quỹ tính đến cuối năm 2019 đạt gần 90.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 bùng phát năm 2020 đã làm bộc lộ rõ rệt những rủi ro. Hàng triệu lao động mất việc hoặc bị giảm thu nhập. Chi trả trợ cấp thất nghiệp và các gói hỗ trợ đột ngột tăng cao. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động, nguồn thu bị sụt giảm nghiêm trọng. Thách thức lớn nhất nằm ở phương pháp dự báo truyền thống. Mô hình dự báo trực tiếp do cơ quan quản lý quỹ xây dựng cho kết quả sai lệch đáng kể so với thực tế. Nguyên nhân là mô hình không tính đến đầy đủ tác động gián tiếp của các nhân tố kinh tế vĩ mô. Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh hiệu quả của phương pháp tiếp cận gián tiếp thông qua mô hình kinh tế lượng. Phương pháp này xây dựng mối quan hệ giữa biến số vĩ mô với thu-chi BHTN, từ đó dự báo chính xác hơn diễn biến của quỹ trong các kịch bản kinh tế khác nhau.

2.1. Thực trạng thu chi quỹ BHTN tại Việt Nam giai đoạn 2009 2020

Giai đoạn 2009-2020, thu-chi quỹ BHTN Việt Nam trải qua nhiều biến động. Giai đoạn 2009-2015, thu tăng trưởng đều đặn theo đà tăng trưởng kinh tế. Tỷ lệ tham gia BHTN mở rộng nhanh nhờ chính sách bắt buộc. Chi trả trợ cấp thất nghiệp duy trì ở mức thấp do tỷ lệ thất nghiệp chính thức không cao. Giai đoạn 2016-2019, quỹ tiếp tục tích lũy thặng dư lớn. Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 năm 2020 tạo ra bước ngoặt. Nghị quyết 42/NQ-CP và Quyết định 15/QĐ-TTg cho phép chi hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng. Chi quỹ tăng đột biến trong khi thu giảm do doanh nghiệp thu hẹp sản xuất. Thực trạng này đòi hỏi phương pháp dự báo linh hoạt hơn.

2.2. Hạn chế của phương pháp dự báo thu chi quỹ BHTN hiện tại

Phương pháp dự báo trực tiếp hiện tại của cơ quan quản lý quỹ BHTN tồn tại nhiều hạn chế. Thứ nhất, mô hình dựa trên giả định tăng trưởng tuyến tính, không phản ánh đúng chu kỳ kinh tế. Thứ hai, mô hình thiếu sự kết nối giữa biến số kinh tế vĩ mô với dòng thu-chi thực tế. Thứ ba, mô hình không có khả năng mô phỏng các kịch bản suy thoái hoặc khủng hoảng. Kết quả là sai số dự báo lớn, ảnh hưởng đến hoạch định chính sách. Nhiều quốc gia đã chuyển sang mô hình ảnh hưởng gián tiếp. Mô hình này sử dụng các phương trình kinh tế lượng để lượng hóa tác động của GDP, thất nghiệp, lạm phát đến thu-chi quỹ. Độ tin cậy cao hơn đáng kể so với phương pháp truyền thống.

III. Mô hình đánh giá ảnh hưởng nhân tố kinh tế vĩ mô đến quỹ BHTN

Luận án của Lê Thành Công đề xuất mô hình kinh tế lượng đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thu-chi quỹ BHTN. Mô hình áp dụng phương pháp tiếp cận gián tiếp. Bước đầu tiên xác định các biến số vĩ mô trọng yếu tác động đến quỹ. Bước thứ hai xây dựng phương trình hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa biến số vĩ mô với thu và chi BHTN. Bước thứ ba sử dụng mô hình để dự báo thu-chi quỹ trong các kịch bản kinh tế khác nhau. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng. Dữ liệu sử dụng là chuỗi thời gian từ năm 2009 đến năm 2020. Các kỹ thuật kinh tế lượng được áp dụng bao gồm mô hình Vector Tự Hồi (VAR), phân tích đồng tích hợp Johansen và mô hình sửa lỗi (VECM). Kết quả nghiên cứu xác định được các nhân tố có ảnh hưởng thống kê có ý nghĩa đến thu-chi quỹ BHTN. Tăng trưởng GDP và tỷ lệ thất nghiệp là hai nhân tố có tác động mạnh nhất. Mô hình cho phép cơ quan quản lý chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với biến động kinh tế. Đây là đóng góp quan trọng về mặt phương pháp luận cho lĩnh vực quản lý quỹ an sinh xã hội tại Việt Nam.

3.1. Cơ sở lý luận về mô hình ảnh hưởng gián tiếp đến quỹ BHTN

Mô hình ảnh hưởng gián tiếp dựa trên nguyên lý: các nhân tố kinh tế vĩ mô không tác động trực tiếp đến quỹ BHTN mà thông qua các kênh trung gian. GDP ảnh hưởng đến thu nhập người lao động, từ đó quyết định mức đóng góp. Tỷ lệ thất nghiệp tác động đến số người hưởng trợ cấp. Phương pháp này được nhiều tổ chức quốc tế khuyến nghị áp dụng. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và OECD đã phát triển nhiều mô hình tương tự. Ưu điểm lớn nhất là khả năng mô phỏng tác động của chu kỳ kinh tế lên quỹ BHTN. Mô hình cũng cho phép đánh giá độ nhạy cảm của quỹ trước các cú sốc kinh tế khác nhau. Đây là nền tảng lý luận vững chắc cho nghiên cứu tại Việt Nam.

3.2. Kết quả phân tích và phát hiện chính từ mô hình kinh tế lượng

Kết quả phân tích từ mô hình VAR/VECM cho thấy several phát hiện quan trọng. Tăng trưởng GDP có mối tương quan thuận với thu quỹ BHTN và tương quan nghịch với chi quỹ. Khi GDP tăng 1%, thu quỹ tăng khoảng 0,8% trong dài hạn. Tỷ lệ thất nghiệp có tác động mạnh và nhanh đến chi quỹ. Lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị thực của quỹ. Mức lương tối thiểu vùng tác động đáng kể đến nguồn thu. Mô hình cũng chỉ ra độ trễ chính sách: tác động của biến động kinh tế lên quỹ BHTN thường có độ trễ 1-2 quý. Các phát hiện này giúp nhà quản lý chủ động trong hoạch định chính sách. Mô hình đạt các tiêu chuẩn thống kê về ổn định và đáng tin cậy.

IV. Kết luận và kiến nghị ứng dụng mô hình dự báo quỹ BHTN

Luận án tiến sĩ của Lê Thành Công đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Thứ nhất, luận án đã tổng quan đầy đủ các nghiên cứu quốc tế và trong nước về BHTN. Thứ hai, luận án xây dựng cơ sở lý luận vững chắc về mối quan hệ giữa nhân tố kinh tế vĩ mô với thu-chi quỹ BHTN. Thứ ba, luận án áp dụng thành công mô hình kinh tế lượng để lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô. Thứ tư, luận án đưa ra dự báo thu-chi quỹ BHTN trong các kịch bản kinh tế khác nhau. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận án填补了国内研究空白, cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ dữ liệu Việt Nam. Về thực tiễn, mô hình giúp cơ quan quản lý quỹ BHTN dự báo chính xác hơn, chủ động xây dựng phương án cân đối thu-chi. Các kiến nghị chính sách bao gồm: áp dụng mô hình dự báo gián tiếp, xây dựng kịch bản ứng phó với suy thoái kinh tế, và xem xét điều chỉnh mức đóng-hưởng phù hợp với biến động kinh tế.

4.1. Ý nghĩa khoa học và đóng góp lý luận của luận án

Luận án có nhiều đóng góp quan trọng về mặt khoa học. Thứ nhất, nghiên cứu xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về tác động của kinh tế vĩ mô đến quỹ BHTN trong bối cảnh Việt Nam. Thứ hai, luận án áp dụng phương pháp kinh tế lượng tiên tiến (VAR/VECM) cho dữ liệu Việt Nam, chứng minh tính khả thi của phương pháp. Thứ ba, nghiên cứu xác định được các nhân tố trọng yếu và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Thứ tư, luận án cung cấp mô hình dự báo có thể áp dụng thực tiễn. Đây là công trình nghiên cứu tiên phong tại Việt Nam theo đuổi hướng tiếp cận gián tiếp. Kết quả mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo cho các loại quỹ an sinh xã hội khác.

4.2. Kiến nghị chính sách và hướng ứng dụng thực tiễn

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra nhiều kiến nghị chính sách cụ thể. Cơ quan quản lý quỹ BHTN nên áp dụng mô hình dự báo gián tiếp thay thế phương pháp truyền thống. Cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên biến số kinh tế vĩ mô. Chính phủ nên xem xét cơ chế điều chỉnh mức đóng-hưởng linh hoạt theo chu kỳ kinh tế. Quỹ BHTN cần có phương án dự phòng tài chính cho giai đoạn suy thoái. Cơ chế đầu tư quỹ nên được đa dạng hóa để tăng hiệu quả sinh lời. Hợp tác quốc tế trong chia sẻ kinh nghiệm quản lý quỹ BHTN cần được tăng cường. Các kiến nghị này nhằm đảm bảo tính bền vững lâu dài của quỹ BHTN trong điều kiện tự cân đối.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô tới thu chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp trong điều kiện tự cân đối ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngƣời lao động luôn là chủ thể quan trọng trong duy trì sự phát triển và phát triển bền vững của xã hội. Ngƣời lao động cống hiến sức lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đồng thời cũng là ngƣời hƣởng thụ phần lớn thành quả của sản xuất. Việc mất khả năng lao động (hoặc không có việc làm) khiến ngƣời lao động chuyển đổi từ trạng thái đóng góp của cải xã hội sang trạng thái tiêu tốn của cải xã hội.

Sự thay đổi đó sẽ khiến sự ổn định và cân bằng xã hội bị lung lay. Thất nghiệp là một hiện tƣợng khách quan và tồn tại trong nền kinh tế thị trƣờng. Theo tính chất thất nghiệp thì thất nghiệp đƣợc chia thành 2 loại: thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Trong đó: thất nghiệp tự nguyện phát sinh do ngƣời lao động không chấp nhận những công việc hiện thời với mức lƣơng tƣơng ứng.

Còn thất nghiệp không tự nguyện xảy ra khi một bộ phận ngƣời lao động không tiếp cận đƣợc việc làm phù hợp với khả năng bản thân họ, mặc dù họ đã cố gắng tìm kiếm và chấp nhận mức thu nhập mang tính thịnh hành. Lƣờng trƣớc những rủi ro thất nghiệp có thể xảy ra đối với ngƣời lao động và hỗ trợ tài chính kịp thời cho ngƣời thất nghiệp là một chính sách xã hội quan trọng của quốc gia. "…Những nhà quản lý nhà nước ở các nước phát triển như: Hoa Kỳ, Đức, Pháp. xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động trong độ tuổi lao động nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định, lâu dài và thịnh vượng cho các thế hệ lao động trong tương lai …" (theo tài liệu [1] ).

Nền tảng của việc xây dựng chính sách BHTN ban đầu đƣợc dựa trên sự tính toán dài hạn về thay đổi tỷ lệ thất nghiệp và quy mô lực lƣợng lao động, nhằm đảm bảo sự công bằng lợi ích giữa phần đóng góp và hƣởng thụ của ngƣời lao động. Ngoài ra, một đặc trƣng quan trọng của quỹ BHTN là mục đích bảo vệ thu nhập chung của tất cả ngƣời lao động trong xã hội và liên tục qua nhiều thế hệ (theo tài liệu [2]). Ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhà nƣớc thực hiện kiểm soát quản lý hoạt động của quỹ BHTN, nhƣng không can thiệp vào tổ chức tài chính của quỹ BHTN. Nói cách khác là hoạt động tài chính của quỹ BHTN là độc lập.Nguyên tắc tự cân 1 đối tài chính quỹ BHTN (pay as you go) cho phép quỹ BHTN tự xác định mức đóng góp và mức chi trả nhằm duy trì sự bền vững tài chính lâu dài của quỹ BHTN.

Ở Việt Nam, bảo vệ lợi ích của ngƣời lao động đƣợc bảo vệ qua hệ thống bảo hiểm xã hội. Chính sách bảo hiểm xã hội (gồm cả BHXH, BHYT và BHTN) của cơ quan quản lý nhà nƣớc đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng. Sự chênh lệch kinh tế giàu nghèo, vùng miền, giới tính… đã đƣợc điều chỉnh tích cực nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng trong xã hội. Mô hình tổ chức tài chính quỹ BHTN ở Việt Nam cũng tuân thủ với nguyên tắc tài chính độc lập.

Nguyên tắc độc lập tài chính của quỹ BHTN của Việt Nam ràng buộc quản lý tài chính quỹ BHTN trong mối quan hệ thu, chi. Theo đó, mức thu đƣợc xác định để làm cơ sở chi và ngƣợc lại. Nhà hoạch định chính sách đƣa ra tính toán dài hạn để xác định mức thu và mức chi cố định nhằm đảm bảo quyền lợi giữa việc đóng góp và hƣởng thụ (chính sách BHTN ở Việt Nam quy định mức thu và mức chi đƣợc cố định theo tỷ lệ phần trăm tiền lƣơng). Mô hình thu chi BHTN dựa trên việc tự chủ tài chính hay tự quyết định mức thu, mức chi BHTN còn đƣợc gọi là mô hình thu chi BHTN trong điều kiện tự cân đối.

Để đảm bảo tính bền vững và lâu dài cho hoạt động tài chính quỹ BHTN, thì cần phải tính toán đƣợc xu hƣớng biến động thu, chi và sự cân bằng của mô hình thu chi BHTN. Sự cân đối tài chính của mô hình thu – chi BHTN đƣợc xác định dựa trên phần chênh lệch giữa thu và chi BHTN. Các nhà hoạch định chính sách BHTN ở Việt Nam xây dựng mô hình phản ánh sự cân đối tài chính quỹ BHTN theo hƣớng xác định riêng biệt giá trị khoản thu và giá trị khoản chi BHTN. Trong đó, mô hình thu chi BHTN trong điều kiện tự cân đối ở Việt Nam trong giai đoạn mới thành lập, đều dựa trên những giả định kinh tế về tỷ lệ thất nghiệp ở mức giao động +/- 4% và xu hƣớng biến động thu, chi BHXH trong quá khứ (theo các tài liệu [3],[4],[5]).

Tuy nhiên, từ khi đi vào có hiệu lực từ năm 2009, có sự khác biệt và chênh lệch trong giả định trong dự báo chính sách và thực tế biến động thu, chi. Sự khác biệt này làm cho mô hình thu chi BHTN biến động ngoài dự kiến và làm nảy sinh một vài vấn đề liên quan đến cân đối tài chính của quỹ BHTN ở Việt Nam. Những nguy cơ đƣợc những nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã chỉ ra gồm: 2 Thứ nhất, tốc độ tăng chi lớn hơn tốc độ tăng thu quỹ BHTN. Sự chênh lệch về tốc độ chi và thu BHTN ngày càng nới rộng trong thời gian gần đây đã làm giảm tích lũy quỹ BHTN (thời gian tích lũy quỹ BHTN ngắn lại) và làm giảm cơ hội chi trả cho ngƣời thất nghiệp khi xảy ra khủng hoảng thất nghiệp với quy mô lớn và thời gian kéo dài.

Trong khi số lƣợng ngƣời tham gia đóng BHTN đang tăng chậm dần, thì số lƣợng ngƣời hƣởng chi trả BHTN lại tăng nhanh (theo các tài liệu [6], [7]). Bên cạnh nguyên nhân khách quan nhƣ: yếu tố khoa học kỹ thuật mới làm giảm số lƣợng việc làm và tăng số lƣợng ngƣời thất nghiệp, hoặc hội nhập kinh tế quốc tế khiến ngành nghề thiếu sức cạnh tranh bị xóa xổ (tăng tỷ lệ thất nghiệp) và một số ngành nghề mới đƣợc tạo ra (tạo thêm việc làm), thì cũng có nguyên nhân chủ quan đến từ chính bản thân ngƣời lao động. Thất nghiệp tự nguyện để nhằm hƣởng chi trả thất nghiệp cũng là một nguyên nhân tiêu cực khiến tốc độ chi tăng nhanh hơn tốc độ thu BHTN. Tất cả những hiện tƣợng này khiến "mục tiêu đảm bảo khả năng hỗ trợ tài chính cho ngƣời thất nghiệp trong tƣơng lai của quỹ BHTN ở Việt Nam" trở nên mong manh hơn (ít sức chịu đựng hơn)".

Thứ hai, quản lý và vận hành quỹ BHTN còn nhiều khiếm khuyết. Tình trạng doanh nghiệp trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho ngƣời lao động diễn ra không chỉ ở doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trong nƣớc, mà còn cả ở những doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong khi đó, chi phí quản lý và điều hành quỹ cũng không ngừng tăng lên mà các hoạt động quản lý (hiệu suất) không thay đổi lớn. Chẳng hạn nhƣ: chi phí đào tạo lại nghề và giới thiệu nghề cho ngƣời thất nghiệp không thu hút đƣợc ngƣời thất nghiệp tham gia.

Các con số báo cáo quản lý chi BHTN chƣa thực sự thuyết phục ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động tin tƣởng vào chính sách BHTN (theo các tài liệu [8], [9], [10], [11]). Cuối cùng, các điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi khác biệt so với thời kỳ thiết kế - xây dựng quỹ BHTN, khiến biến động thu, chi BHTN chệch khỏi quỹ đạo cân bằng ban đầu. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thu, chi BHTN và điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi cho thấy vai trò quan trọng của dự phòng quỹ BHTN khi xảy ra khủng hoảng thất nghiệp – kinh tế xảy ra (theo các tài liệu [12], [13], [14]). Với sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội (mức lƣơng cơ sở tăng, biến động lạm phát, chu kỳ thất nghiệp ngày càng ngắn và mức độ khủng hoảng thất nghiệp ngày 3 càng lớn.), thì khả năng tăng chi từ quỹ BHTN tăng lên nhằm khắc phục khủng hoảng xảy ra.

Điều này cũng khiến mục tiêu tích lũy và cân bằng quỹ BHTN dƣờng nhƣ chệch khỏi quỹ đạo dự kiến ban đầu. Các mô phỏng dự báo thu, chi BHTN và cân đối thu chi có sự chênh lệch lớn so với báo cáo thực tế (theo các tài liệu [3],[4],[5]). Do vậy, công tác thiết kế và dự báo tài chính quỹ BHTN là một vấn đề hệ trọng trong hoạt động tƣơng lai của quỹ BHTN. Những vấn đề thực tiễn ở trên đặt ra những thách thức nhƣ: + Cần phải xem xét lại mô hình cân đối thu – chi BHTN để nhằm mục tiêu cho ra kết quả dự báo có độ sai lệch thấp.

Mô hình dự báo thu chi BHTN hiện nay ở Việt Nam phải thể hiện đƣợc vai trò quan trọng nhằm làm tăng mức độ thuyết phục ngƣời tham gia vào quỹ và ngƣời quản lý quỹ BHTN vào niềm tin về hiệu quả hoạt động quỹ BHTN. Tuy nhiên, kết quả của những công trình nghiên cứu mô hình cân đối thu chi quỹ BHTN hiện nay cho ra kết quả có sự sai lệch đáng kể. Do đó, cần thiết phải xem xét, lựa chọn và tính toán lại các thông tin về xu hƣớng biến động thu chi quỹ BHTN. + Kế thừa và vận dụng những cơ sở khoa học hiện đại trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội ở trên thế giới vào thực hiện kiểm chứng ở Việt Nam? Mô hình dự báo và cân đối quỹ BHTN ở Việt Nam đầu tiên đƣợc đƣa ra vào năm 2011 và đƣợc chỉnh sửa, bổ sung vào năm 2015.

Trong khi các nhà nghiên cứu và quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam vẫn theo đuổi lựa chọn phƣơng pháp tiếp cận trực tiếp, thì các nhà nghiên cứu trên thế giới đã và đang sử dụng mô hình ảnh hƣởng của nhân tố kinh tế vĩ mô tới sự cân đối thu chi quỹ BHTN nhằm thay thế những khiếm khuyết của phƣơng pháp tiếp cận trực tiếp. Mô hình này đã gắn kết giữa nhân tố khách quan của nền kinh tế thị trƣờng với sự thay đổi cấu trúc xã hội. Từ đó nhằm hƣớng tới xây dựng chính sách xã hội về an sinh cho ngƣời thất nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trƣờng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ