Luận án tiến sĩ: Dự báo cầu lao động ngành chế biến thực phẩm bằng tiếp cận đối ngẫu - Lâm Văn Sơn, ĐH Kinh tế Quốc dân

Phân tích dự báo cầu lao động ngành chế biến thực phẩm sử dụng phương pháp tiếp cận đối ngẫu. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và xu hướng phát triển nguồn nhân

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

158
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về dự báo cầu lao động ngành chế biến thực phẩm

Ngành chế biến thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế Việt Nam. Đây là ngành thu hút lượng lao động lớn, đặc biệt tại các khu công nghiệp. Việc dự báo cầu lao động chính xác giúp doanh nghiệp lập kế hoạch nhân sự hiệu quả và giúp cơ quan quản lý nhà nước hoạch định chính sách đào tạo phù hợp. Luận án tiến sĩ của Lâm Văn Sơn tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2021) tiếp cận vấn đề này từ góc độ doanh nghiệp, sử dụng lý thuyết đối ngẫu trong kinh tế học. Phương pháp đối ngẫu cho phép xây dựng hàm cầu lao động dựa trên bài toán cực đại lợi nhuận hoặc cực tiểu chi phí. Thay vì nhìn từ góc độ vĩ mô, nghiên cứu phân tích hành vi tối ưu hóa của từng doanh nghiệp. Cách tiếp cận này khắc phục nhiều hạn chế của các phương pháp dự báo truyền thống vốn dựa chủ yếu vào số liệu tổng hợp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc dự báo nhu cầu nhân lực trong ngành chế biến thực phẩm giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.

1.1. Vị trí ngành chế biến thực phẩm trong nền kinh tế

Ngành chế biến thực phẩm là một trong những ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam. Ngành này chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP công nghiệp và là nguồn xuất khẩu lớn. Lao động trong ngành chiếm khoảng 15-20% tổng lao động công nghiệp chế biến chế tạo. Đặc điểm nổi bật là sử dụng nhiều lao động phổ thông và có tính mùa vụ cao. Sự biến động về sản lượng, giá đầu vào và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong ngành. Hiểu rõ cơ cấu lao động và các yếu tố quyết định cầu lao động là nền tảng để xây dựng mô hình dự báo tin cậy.

1.2. Khoảng trống nghiên cứu và đóng góp của luận án

Các nghiên cứu trong nước về dự báo cầu lao động chủ yếu sử dụng phương pháp hệ số lao động hoặc ngoại suy xu thế. Những phương pháp này thiếu nền tảng lý thuyết kinh tế vi mô vững chắc và không phản ánh được hành vi ra quyết định của doanh nghiệp. Luận án lấp đầy khoảng trống này bằng cách áp dụng lý thuyết đối ngẫu, kết hợp mô hình dữ liệu mảng và kinh tế lượng không gian. Đây là cách tiếp cận mới, có khả năng nắm bắt tác động của các yếu tố kinh tế vi mô lẫn hiệu ứng lan tràn không gian giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành.

II. Phân tích lý thuyết đối ngẫu và các yếu tố ảnh hưởng cầu lao động

Lý thuyết đối ngẫu trong kinh tế học cung cấp hai bài toán tương đương để phân tích hành vi doanh nghiệp. Bài toán cực đại lợi nhuận xác định mức đầu vào tối ưu để đạt lợi nhuận cao nhất tại mức giá sản phẩm và giá nhân tố cho trước. Bài toán cực tiểu chi phí xác định tổ hợp đầu vào rẻ nhất để sản xuất một mức sản lượng nhất định. Hai bài toán này cho ra hàm cầu nhân tố lao động có tính chất đối ngẫu với hàm lợi nhuận hoặc hàm chi phí. Cầu lao động phụ thuộc vào giá tiền lương, giá vốn, giá các nhân tố khác và mức sản lượng mục tiêu. Trong ngành chế biến thực phẩm, các yếu tố như giá nguyên liệu nông sản đầu vào, công nghệ chế biến và quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng đáng kể đến quyết định tuyển dụng. Điều kiện hiệu quả theo quy mô quyết định hình dạng của hàm cầu lao động. Dưới hiệu quả giảm dần theo quy mô, bài toán cực đại lợi nhuận có nghiệm hữu hạn xác định. Điều này phù hợp với thực tế hầu hết doanh nghiệp chế biến thực phẩm quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam.

2.1. Hàm cầu lao động từ bài toán cực đại lợi nhuận

Bài toán cực đại lợi nhuận cho phép dẫn xuất hàm cầu lao động không có điều kiện. Doanh nghiệp chọn mức lao động L* để tối đa hóa π = p·f(L,K) - wL - rK, trong đó p là giá sản phẩm, w là tiền lương và r là chi phí vốn. Điều kiện tối ưu yêu cầu giá trị sản phẩm biên của lao động bằng tiền lương thực tế. Hàm cầu lao động tối ưu là hàm của (p, w, r), được xác định hoàn toàn bởi cấu trúc công nghệ và các mức giá thị trường. Luận án ước lượng hàm này bằng số liệu điều tra doanh nghiệp, cho phép kiểm định các giả thiết lý thuyết về tính đồng nhất và tính đối xứng.

2.2. Vấn đề ước lượng giá nhân tố và nội sinh

Một thách thức lớn trong ước lượng hàm cầu lao động là vấn đề nội sinh của giá nhân tố. Tiền lương và mức sử dụng lao động được xác định đồng thời trên thị trường. Bỏ qua vấn đề này dẫn đến ước lượng chệch và không nhất quán. Luận án sử dụng phương pháp biến công cụ và ước lượng GMM trên dữ liệu mảng để xử lý nội sinh. Ngoài ra, mô hình kinh tế lượng không gian được tích hợp để nắm bắt sự phụ thuộc không gian giữa các doanh nghiệp cùng ngành trong các tỉnh lân cận, một yếu tố thường bị bỏ qua trong các nghiên cứu trước.

III. Phương pháp ước lượng và mô hình dự báo cầu lao động

Luận án xây dựng hai nhóm mô hình bổ sung cho nhau. Nhóm thứ nhất là mô hình dữ liệu mảng dựa trên số liệu doanh nghiệp nhiều năm, cho phép kiểm soát các đặc điểm không quan sát được của từng doanh nghiệp. Nhóm thứ hai là mô hình kinh tế lượng không gian, nắm bắt hiệu ứng lan tràn địa lý trong quyết định tuyển dụng lao động. Số liệu sử dụng từ điều tra doanh nghiệp toàn quốc hàng năm do Tổng cục Thống kê thực hiện, kết hợp số liệu điều tra lao động việc làm. Phương pháp ước lượng bao gồm Fixed Effects, Random Effects và GMM hệ thống. Sau khi có tham số ước lượng, dự báo cầu lao động được thực hiện theo hai kịch bản tăng trưởng kinh tế. Kịch bản cơ sở dựa trên xu thế lịch sử và kịch bản cao dựa trên mục tiêu tăng trưởng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Phương pháp dự báo này vượt trội so với ngoại suy đơn giản vì có nền tảng lý thuyết rõ ràng và có thể mô phỏng tác động của thay đổi chính sách tiền lương, đầu tư vốn hoặc công nghệ.

3.1. Mô hình dữ liệu mảng và ước lượng GMM

Dữ liệu mảng kết hợp thông tin theo thời gian và không gian, cung cấp nhiều biến động hơn để ước lượng chính xác. Mô hình Fixed Effects kiểm soát các yếu tố cố định đặc thù doanh nghiệp như vị trí địa lý, lịch sử hoạt động và văn hóa quản lý. Mô hình GMM hệ thống (Blundell-Bond) xử lý đồng thời vấn đề nội sinh và thiên lệch Nickell trong mô hình động. Biến công cụ được chọn từ các trễ của biến giải thích, đảm bảo điều kiện ngoại sinh. Kiểm định Hansen và Arellano-Bond xác nhận tính hợp lệ của biến công cụ và không có tự tương quan bậc hai trong phần dư.

3.2. Mô hình kinh tế lượng không gian về cầu lao động

Mô hình không gian thừa nhận rằng quyết định tuyển dụng của doanh nghiệp ở một địa phương bị ảnh hưởng bởi điều kiện thị trường lao động ở các địa phương lân cận. Ma trận trọng số không gian được xây dựng dựa trên khoảng cách địa lý và mức độ kết nối kinh tế giữa các tỉnh. Mô hình Spatial Lag và Spatial Error được ước lượng bằng Maximum Likelihood. Kết quả cho thấy tồn tại hiệu ứng lan tràn không gian có ý nghĩa thống kê: sự tăng lương ở tỉnh lân cận làm tăng cầu lao động tại địa phương do dịch chuyển đơn đặt hàng. Phát hiện này có hàm ý quan trọng cho chính sách lương tối thiểu vùng.

IV. Kết quả dự báo và hàm ý chính sách cho ngành chế biến thực phẩm

Kết quả ước lượng xác nhận hàm cầu lao động trong ngành chế biến thực phẩm có độ co giãn tiền lương âm, phù hợp lý thuyết. Hệ số co giãn dao động từ -0,3 đến -0,6 tùy phân ngành, cho thấy cầu lao động không quá nhạy cảm với thay đổi tiền lương trong ngắn hạn. Sản lượng và đầu tư vốn là hai yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến cầu lao động. Dự báo đến năm 2025, ngành chế biến thực phẩm cần thêm khoảng 15-20% lao động so với năm 2020 theo kịch bản cơ sở. Nhu cầu tập trung vào lao động kỹ thuật có tay nghề trong các phân ngành chế biến đồ uống, sữa và thực phẩm đông lạnh. Kết quả này cung cấp cơ sở định lượng cho các quyết định đầu tư đào tạo nghề và chính sách di cư lao động. Doanh nghiệp có thể sử dụng mô hình để lập kế hoạch tuyển dụng trung hạn. Cơ quan quản lý có công cụ đánh giá tác động của thay đổi lương tối thiểu vùng đến việc làm trong ngành.

4.1. Kết quả dự báo cầu lao động theo kịch bản

Dự báo được thực hiện theo hai kịch bản dựa trên tốc độ tăng trưởng GDP ngành. Kịch bản cơ sở (tăng trưởng 6,5%/năm) dự báo cầu lao động tăng 2,1%/năm trong giai đoạn 2021-2025. Kịch bản cao (tăng trưởng 8%/năm) dự báo mức tăng 3,4%/năm. Các phân ngành chế biến rau quả và thủy sản có nhu cầu lao động tăng nhanh nhất do lợi thế xuất khẩu. Ngược lại, phân ngành xay xát gạo có xu hướng giảm cầu lao động do tự động hóa. Kết quả phân tích nhạy cảm cho thấy dự báo ổn định khi thay đổi giả định về tốc độ tăng năng suất lao động trong biên độ hợp lý.

4.2. Hàm ý chính sách và khuyến nghị thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có ba hàm ý chính sách quan trọng. Thứ nhất, chính sách lương tối thiểu vùng cần tính đến hiệu ứng lan tràn không gian để tránh gây mất cân bằng thị trường lao động cục bộ. Thứ hai, đầu tư đào tạo nghề cần ưu tiên các kỹ năng vận hành máy móc chế biến và kiểm soát chất lượng thực phẩm. Thứ ba, chính sách thu hút đầu tư vào ngành cần gắn kết với kế hoạch phát triển nguồn nhân lực địa phương. Doanh nghiệp có thể tham khảo mô hình để xây dựng kế hoạch tuyển dụng và đào tạo nội bộ phù hợp với chu kỳ kinh doanh và biến động giá nguyên liệu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ sử dụng cách tiếp cận đối ngẫu dự báo cầu lao động của ngành chế biến thực phẩm tiếp cận từ phía doanh nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu lý thuyết liên quan Lý thuyết sản xuất đưa ra nhiều mô hình thay thế khác nhau để đại diện cho các khả năng sản xuất. Yêu cầu dữ liệu của các mô hình thay thế khác nhau: Các mô hình định hướng sản xuất trực tiếp tập trung vào số lượng đầu vào - đầu ra, trong khi các nhà kinh tế thường thích nghiên cứu dữ liệu giá tiền, chi phí, doanh thu và / hoặc lợi nhuận. Bắt nguồn từ công trình nổi tiếng của Hotelling (1932) và đặc biệt là Shephard (1953, 1970 và 1974), Lý thuyết đối ngẫu về sản xuất cung cấp một khung tiên đề liên kết các mô hình thay thế theo một kiểu hệ thống, chặt chẽ.

Một lực đẩy chính của Lý thuyết đối ngẫu đến từ việc phân tích cầu đầu vào ( như lao động) và cung đầu ra bằng cách sử dụng các kết quả nổi tiếng như bổ đề Hotelling, bản sắc của Roy và bổ đề Shephard. Từ quan điểm thực tế / ứng dụng, việc tạo điều kiện cho sản xuất chung (tức là các công nghệ đa đầu vào nhiều đầu ra) trong phân tích hồi quy truyền thống sử dụng các hàm chi phí, doanh thu và lợi nhuận như là đại diện kép của công nghệ là một trong những lợi ích thực tế lớn của Lý thuyết Đối ngẫu, trong số nhiều lý thuyết khác. Lịch sử hàm chi phí đối ngẫu của hàm sản xuất. Đường cong chi phí là một khái niệm cổ điển trong kinh tế học, khác với khái niệm hàm sản xuất.

Tuy nhiên, việc phân tích một cách hệ thống các thuộc tính của các đạo hàm giá cả của hàm chi phí dường như bắt nguồn từ một bài báo của Hotelling (1932) về bài toán tương đương về mặt toán học của việc giảm thiểu chi tiêu của người tiêu dùng với giới hạn mức độ tiện ích. Các thuộc tính của hàm chi tiêu tiêu dùng được Roy (1942) và Khan, M., & Schlee, E (2016) phát triển thêm., & Schlee, E dường như đã lưu ý đầu tiên rằng các thuộc tính của hàm chi tiêu có thể nhận được là kết quả của việc tối ưu hóa bằng cách sử dụng lý thuyết toán học về hàm lồi với các giả thiết yếu hơn nhiều so với các tác giả trước đó. Lý thuyết thiết lập mối quan hệ kép giữa hàm chi phí và hàm sản xuất được Shephard (1953) đưa vào kinh tế học, người đã tập trung nhiều vào các tính chất của tập lồi do Fenchel (1953) phát hiện. Những đóng góp bổ sung cho các ứng dụng kinh tế của lý thuyết đối ngẫu đã được thực hiện bởi Uzawa (1964), McFadden (1962), Hanoch (1975) và Lau (1976a).

Có lẽ vì các kết quả lý thuyết về hàm chi phí bị phân tán và tương đối khó tiếp cận, giá trị tiềm năng của chúng trong phân tích kinh tế lượng đã không được công nhận cho đến khi Nerlove (1963) sử dụng trường hợp Cobb Douglas trong một nghiên cứu về lợi nhuận theo quy mô trong các tiện ích điện. Kể từ giữa những năm 1960, một loạt các nghiên cứu thực nghiệm, bao gồm các bài báo của Diewert (1992), và Jorgenson và Lau (1974a), đã sử dụng một cách có hệ thống các khái niệm đối ngẫu. Từ tiếp toán kinh tế, người ta đã đi đến ước lượng và dự báo cầu lao động.2 Cách tiếp cận dự báo cầu lao động Cách tiếp cận đối ngẫu sử dụng hàm cực tiểu chi phí để xây dựng hàm cầu lao động. Đối với mô hình cầu lao động, nhiều nghiên cứu sử dụng theo thông lệ tiêu chuẩn bằng cách áp dụng phương pháp đối ngẫu và cực tiểu chi phí với sản lượng không đổi (Hamermesh, 1993).

Các nghiên cứu lựa chọn một hàm chi phí chuyển đổi, theo đề xuất của Christensen và cộng sự. (1973), là một phép tương ứng tuyến tính, bậc hai với một hàm chi phí tùy ý. Peichl và Siegloch (2012) cho thấy rằng đối với mô hình cầu lao động, tác giả tuân theo tiêu chuẩn bằng cách áp dụng phương pháp đối ngẫu và giảm thiểu chi phí với sản lượng không đổi (Hamermesh, 1993). Tác giả lựa chọn một hàm chi phí chuyển đổi (translog) theo đề xuất của Christensen và cộng sự.

Theo đề xuất của Diewert và Wales (1987) và tính toán chi phí C của một doanh nghiệp, cho trước đầu ra Y, hàm chi phí như sau: 𝑛 𝑛 𝑛 𝑛 𝑙𝑛𝐶 (𝑤𝑖 , 𝑌) = 𝛼0 ∑ 𝛼𝑖 𝑙𝑛𝑤𝑖 + 0., I, biểu thị chi phí đơn vị (tức là tiền lương) của đầu vào lao động thứ i và t là chỉ số thời gian. Bên cạnh điều kiện aij = aji, một số hạn chế khác đối với các tham số được giữ lại, đảm bảo tính đồng nhất tuyến tính trong giá nhân tố và cho phép lợi nhuận không đổi theo tỷ lệ: 𝑛 𝑛 𝑛 𝑛 𝑛 ∑ 𝛼𝑖 = 1 ∑ 𝛼𝑖𝑗 = ∑ 𝛼𝑖𝑗 = 0 ∑ 𝛽𝑖𝑌 = 0 ∑ 𝛿𝑖𝑡 = 0 𝑖=1 𝑖=1 𝑗=1 𝑖=1 𝑖=1 Các tác giả sử dụng Bổ đề Shephard (Shephard,1970) để đưa ra hàm cầu lao động. Yoshimi Kuroda (1987) đã phân tích mối quan hệ các yếu tố của nông nghiệp Nhật Bản thời hậu chiến để xác định các yếu tố giải thích sự sụt giảm đáng kể lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Tác giả ước lượng hàm chi phí và kết quả phân tích dựa trên các ước lượng cho thấy những thay đổi thiên lệch về kỹ thuật và sự thay thế yếu tố giá cả đóng vai trò quan trọng trong việc giảm bớt sự chuyển dịch lao động nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp.

Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở Nhật Bản trong những năm sau chiến tranh đã kéo theo sự chuyển dịch lao động đáng kể từ nông nghiệp sang các lĩnh vực phi nông nghiệp. Tỷ lệ giảm lao động trong nông nghiệp giảm bình 8 quân là 3,3% mỗi năm. Mô hình hàm chi phí chuyển đổi được ước tính cho giai đoạn 1952-82 dựa trên dữ liệu cấp trang trại. Các phương pháp tương tự đã được sử dụng để phân tích nông nghiệp Hoa Kỳ và Nhật Bản (Binswanger, 1974; Ray, 1982; Kako, 1978 và Nghiệp, 1979).

Những nghiên cứu này đã giả định rằng quy trình sản xuất được đặc trưng bởi tính đồng nhất và thay đổi kỹ thuật là trung lập Hicks. Tuy nhiên, nếu giả thuyết duy trì về hành vi giảm thiểu chi phí bị bác bỏ thông qua kiểm tra thống kê, thì mô hình hàm chi phí chuyển đổi có thể không hợp lệ. Ngoài ra, nếu quy trình sản xuất không thuần nhất về công nghệ hoặc công nghệ trung lập, thì những kết quả ước lượng có thể bị sai lệch. Những nghiên cứu này lựa chọn cách tiếp cận hàm chi phí vì: i) quy định của chính phủ về giá đầu ra thông qua các chương trình giá trong thời gian được đề cập có thể đã làm thay đổi nguyên tắc định giá chi phí cận biên của nông dân, điều này ngụ ý rằng cách tiếp cận hàm lợi nhuận có thể không phù hợp.

Hơn nữa, vào cuối những năm 1970, chính phủ Nhật Bản đã đưa ra một tỷ lệ phân bổ cho sản xuất gạo để cân bằng cung với cầu. Mức sản lượng sau đó có thể được coi là ngoại sinh; ii) cách tiếp cận hàm chi phí đưa ra các ước tính trực tiếp về các độ co giãn từng phần Allen khác nhau của sự thay thế; iii) cách tiếp cận hàm chi phí cho phép chúng ta khai thác lý thuyết đối ngẫu mà không áp đặt bất kỳ hạn chế nào đối với lợi nhuận theo quy mô trong công nghệ cơ bản. Wong và cộng sự (2008) đã trình bày sự phát triển của các mô hình dự báo nhu cầu lao động tiên tiến ở cấp độ dự án để áp dụng dự báo cho ngành xây dựng. Các mô hình dự báo nhu cầu đã được phát triển cho tổng số lao động của dự án và mười ngành nghề thiết yếu.

Dữ liệu được thu thập từ một mẫu của 54 dự án xây dựng. Những dữ liệu này được phân tích thông qua một loạt các phân tích hồi quy tuyến tính nhiều lần giúp thiết lập các mô hình ước lượng. Kết quả chỉ ra rằng nhu cầu lao động của dự án không chỉ phụ thuộc vào một yếu tố đơn lẻ, mà là một nhóm các biến số liên quan đến các đặc điểm của dự án, bao gồm chi phí xây dựng, các thuộc tính phức tạp của dự án, tình trạng địa điểm thực tế và loại dự án. Các mô hình hồi quy dẫn xuất đã được kiểm tra và xác nhận bằng cách sử dụng bốn dự án ngoài mẫu và các thử nghiệm chẩn đoán khác nhau.

Kết luận rằng các mô hình là mạnh mẽ và đáng tin cậy, điều này có ích cho các nhà đầu tư và Chính phủ trong việc dự đoán lao động cần thiết cho một dự án xây dựng mới và tạo điều kiện cho việc lập kế hoạch và ngân sách nguồn nhân lực, đồng thời phương pháp luận được sử dụng có thể được áp dụng để phát triển các mô hình hữu ích như nhau các phân ngành khác, và ở các nước khác. Rana Hasan và cộng sự (2003) đã xem xét bài toán tối thiểu hóa chi phí của các doanh nghiệp như sau: 9 MinK , L,M rK + wL + mM tùy theo Q = F (K , L, M ) trong đó r, w và m là chi phí sử dụng vốn, tiền lương và giá nguyên vật liệu tương ứng, trong khi K, L và M đại diện cho vốn, lao động và nguyên vật liệu và Q là sản lượng. Việc giải bài toán tối ưu hóa ở trên tạo ra hàm cầu lao động có điều kiện và độ co giãn cầu lao động theo sản lượng không đổi. Các tác giả sử dụng giả định lợi nhuận không đổi theo quy mô và cạnh tranh hoàn hảo để viết hàm cầu lao động.

Theo Hanan Nazier (2019) cho thấy lý thuyết cầu lao động nhấn mạnh cách doanh nghiệp chọn lượng lao động được sử dụng trong sản xuất và sự thay đổi của cầu đối với sản phẩm và giá của các yếu tố sản xuất. Cơ sở của lý thuyết cầu lao động là dựa vào mục đích tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối thiểu hóa chi phí để điều chỉnh lượng lao động đầu vào. Bằng cách giải quyết vấn đề tối ưu hóa của doanh nghiệp người ta xác định hàm cầu lao động có điều kiện và không có điều kiện. Điều này liên quan đến việc chỉ định một hàm sản xuất, được giả định là tăng và lõm ngặt.

Các đặc điểm kỹ thuật khác nhau đã được sử dụng thông qua các dạng hàm sản xuất như Cobb – Douglas, hàm CES…(Addison và cộng sự, 2014).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ