ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới và ngày càng tăng ở các nước đang phát triển. Ước tính có hơn 1,15 tỷ người trên toàn cầu mắc THA, trong đó khoảng hơn 2/3 người mắc THA ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (1). THA rất nguy hiểm vì thường diễn biến âm thầm và gây ra những biến chứng trầm trọng với khoảng 9,4 triệu người tử vong do THA trên thế giới hàng năm (1). Để giảm các biến chứng do không kiểm soát được HA, tuân thủ điều trị (TTĐT) là một trong những can thiệp hàng đầu (2).
Tuy vậy, TTĐT của NB THA còn rất hạn chế với khoảng dao động từ 20% - 30% qua các nghiên cứu trên thế giới (3). Tại Việt Nam, các nghiên cứu đều chỉ ra tỷ lệ TTĐT chỉ đạt từ 10%-30% trong những người mắc (4-6). Tại Việt Nam, số người mắc THA qua các nghiên cứu có xu hướng gia tăng qua các năm từ 16,3% năm 2002 lên 25,1% năm 2008 (7) và 47,3% vào năm 2015 (8). Dự án phòng chống THA được triển khai vào năm 2010 là một chương trình ưu tiên với mục tiêu tăng cường quản lý điều trị cho người mắc THA (9).
Tiếp theo, chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015-2025 (10) và ban hành Hướng dẫn hoạt động dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và quản lý một số BKLN phổ biến cho tuyến y tế cơ sở (11). Đây là những văn bản quan trọng định hướng cách tiếp cận toàn diện và tập trung trong việc quản lý bệnh THA. Tuy vậy, việc quản lý TTĐT ngoại trú NB THA tại các cơ sở y tế tuyến cơ sở vẫn rất hạn chế do nhiều trở ngại như thiếu thuốc điều trị HA, chưa có cơ chế chi trả cho hoạt động tư vấn, v. Các nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý TTĐT NB THA gồm các yếu tố từ việc quản lý và điều hành, tác động của môi trường chính sách, thiếu nhân lực, thuốc và trạng thiết bị cũng như hệ thống thông tin còn nghèo nàn (12).
Tại tỉnh Vĩnh Phúc, NB THA được phát hiện sau sàng lọc đều được tư vấn quản lý tại các cơ sở y tế từ năm 2016 (11). Tuy nhiên, quản lý tuân thủ điều trị ngoại trú người bệnh THA vẫn còn gặp nhiều trở ngại do thiếu nhân lực, thiếu phần mềm hỗ trợ 2 quản lý và theo dõi tuân thủ NB. Bệnh viện Y Dược cổ truyền (BVYDCT) tỉnh Vĩnh Phúc là đơn vị sự nghiệp y tế hạng II, trực thuộc Sở Y tế với 08 khoa chuyên môn và 5 phòng chức năng. Tổng số cán bộ hiện có 191 cán bộ với 320 gường thực kê.
Báo cáo năm 2021 cho thấy BVYDCT tỉnh Vĩnh Phúc đang quản lý tuân thủ điều trị ngoại trú hơn 1200 người bệnh tăng huyết áp (13). Số người bệnh THA tăng nhanh qua các năm. Báo cáo hàng năm cho thấy hoạt động quản lý TTĐT còn nhiều bất cập do thiếu việc giám sát và theo dõi NB tại nhà. Năm 2021, BVYDCT tiếp nhận gần 20 trường hợp cấp cứu do biến chứng liên quan tới THA.
Con số này tăng mạnh hơn so với số 12-15 trường hợp của năm 2019 và 2020. Nhiều người bệnh thậm chí chưa tuân thủ uống thuốc liên tục và chế độ ăn ít muối… Trước thực trạng này, nhiều câu hỏi được đặt ra như: Quản lý tuân thủ điều trị ngoại trú người bệnh THA tại BVYDCT tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay đang thực hiện như thế nào? Có cần điều chỉnh gì không? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến các hoạt động quản lý tuân thủ điều trị ngoại trú và làm thế nào để tăng cường hoạt động này? Vì vậy, chúng tôi đã triển khai đề tài “Quản lý tuân thủ điều trị ngoại trú cho người bệnh tăng huyết áp và một số yếu tố ảnh hưởng tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng quản lý tuân thủ điều trị ngoại trú cho người bệnh tăng huyết áp tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Vĩnh Phúc 2022.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tuân thủ điều trị ngoại trú cho người bệnh tăng huyết áp tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Vĩnh Phúc 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và quy định về bệnh tăng huyết áp 1. Định nghĩa huyết áp và tăng huyết áp Hội THA thế giới cùng với WHO đã quy định huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên được gọi là THA (HATT >140 hoặc HATTr > 90) (14).
Tại Việt Nam, một người trưởng thành (≥18 tuổi) bị THA khi “huyết áp tâm thu (HATT) lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg” (9). Bộ y tế Việt Nam phân loại THA theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC - Joint National Committee) chỉ khác là phân độ huyết áp của Bộ Y tế thay tên huyết áp bình thường cao bằng tiền THA nhưng chỉ số vẫn không đổi và Bộ Y tế có thêm khái niệm THA tâm thu đơn độc (HATT >140mmHg, HATTr <90mmHg) (9). Tình hình bệnh tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam Theo WHO, tỷ lệ THA ở người trưởng thành là 1/5 (22%) vào năm 2014 (14). Năm 2010, ước tính có khoảng 1,4 tỷ người trên toàn cầu mắc THA trong đó chỉ 14% được kiểm soát ở mức huyết áp tâm thu (SBP, mmHg) dưới 140 (15).
THA gây ra 18 triệu ca tử vong do biến chứng tim mạch hàng năm. Tỷ lệ mắc THA khác nhau giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới, trong đó khu vực Châu Phi có tỷ lệ THA cao nhất (30%) và khu vực Châu Mỹ có tỷ lệ THA thấp nhất (18%). Ở khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ mắc THA là khoảng 1/3 tổng số người trưởng thành (35%). THA ở nam giới cao hơn so với nữ giới, cao hơn ở các nước có thu nhập thấp và trung bình so với các nước có thu nhập cao (16).
Tỷ lệ THA tuy cao nhưng tỷ lệ NB được quản lý và kiểm soát HA lại rất thấp. Tại Ấn Độ, tỷ lệ người trưởng thành mắc THA là 29,8% nhưng chỉ có 10,7% NB kiểm soát được HA (17). Tại Malaysia, điều tra trên 13.784 bản ghi từ 20 cơ sở điều trị ban đầu cho thấy 1/2 NB được chăm sóc ít nhất 70% mục tiêu theo chỉ định điều trị nhưng 5 chỉ 42,8% được kiểm soát HA đầy đủ năm 2019 (18). Các biến chứng ở người mắc THA không chỉ gây ra các bệnh lý, tàn tật hay tử vong mà còn tăng mạnh gánh nặng cho gia đình và cả xã hội.
Phát hiện sớm tiền THA cũng cần phải đẩy mạnh để giúp giảm nguy cơ HA tiến triển (19). Tại Việt Nam, tỷ lệ người trưởng thành mắc THA tăng đáng kể trong giai đoạn 1960-2020. Năm 2008, điều tra của Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam trên 8 tỉnh ở trên toàn quốc cho tỷ lệ tỷ lệ mắc THA của người trưởng thành Việt Nam (>25 tuổi) là 25,1%, trong đó tỷ lệ THA ở nam giới là 28,3% và ở nữ giới là 23,1% (7). Năm 2015, thống kê của Hội Tim mạch học Việt Nam cho biết chúng ta có 20,8 triệu người trưởng thành mắc THA chiếm tỷ lệ 47,3% (8).
Các biến chứng của THA gồm đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh tim chiếm 3 vị trí trong 20 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nước ta (8). THA vì vậy là bệnh góp phần lớn nhất vào gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam. Các yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp Khoảng 95% bệnh nhân bị THA còn lại là không có nguyên nhân nên được gọi là bệnh THA (hay THA tiên phát) nhưng đồng thời y học cũng chứng minh có một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh THA (20): Hút thuốc lá, thuốc lào: Nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điếu thuốc lá có thể làm tăng huyết áp tâm thu lên tới 11mmHg và huyết áp tâm trương lên 9mmHg và kéo dài trong 20-30 phút (21). Tiểu đường: Ở người bị tiểu đường, tỷ lệ bệnh nhân bị THA cao gấp đôi so với người không bị tiểu đường (22).
Rối loạn lipid máu: Nồng độ LDL-C trên 3,0mmol/dl là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ngược lại, HDL-C được xem là có vai trò bảo vệ. Hàm lượng HDL-C trong máu cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp (tối thiểu cũng phải cao hơn 1,0mmol/dl) (23). Tiền sử gia đình có người bị THA: Bệnh THA có thể có yếu tố di truyền.
Trong 6 gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn (14). Tuổi cao: Tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều (14). Thừa cân, béo phì: Cân nặng có quan hệ khá tương đồng với bệnh THA, người béo phì hay người tăng cân theo tuổi cũng làm tăng nhanh huyết áp (14). Ăn mặn: Ăn nhiều muối (natri chlorua) thì tần suất mắc bệnh THA tăng cao rõ rệt (14).
Uống nhiều bia, rượu: Uống rượu, bia quá mức cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng. Ngoài ra, uống rượu, bia quá mức còn gây bệnh xơ gan và các tổn thương thần kinh nặng nề khác từ đó gián tiếp gây THA (14). Tuân thủ điều trị Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa tuân thủ điều trị là “mức độ hành vi của NB trong việc thực hiện đúng các khuyến cáo đã được thống nhất giữa họ và nhân viên y tế (NVYT) về việc dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống” (24). Morisky cũng đưa ra định nghĩa về TTĐT là: “Tuân thủ là mức độ hành vi của bệnh nhân đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng, và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng với khuyến cáo của nhân viên y tế” (25).
TTĐT được hiểu bắt đầu từ khi tiến hành điều trị thông qua thực hiện đầy đủ chế độ được kê toa, chế độ ăn kiêng và thay đổi lối sống theo khuyến cáo của NVYT. TTĐT bệnh THA theo quy định của Bộ Y tế trong Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp (Quyết định 3192/QĐ-BYT) năm 2010 bao gồm (9): - Tuân thủ về dùng thuốc: là NB thực hiện đúng theo y lệnh điều trị về thuốc. - Tuân thủ thay đổi lối sống như: tuân thủ tốt khẩu phần ăn, giảm cân, hạn chế 7 hoặc không sử dụng các chất kích thích (rượu/bia, thuốc lá), tập luyện thể dục hàng ngày, tránh lo âu, căng thẳng (19).