CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đại cương về bệnh THA 1. Định nghĩa Tăng huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mm Hg [13]. Dịch tễ bệnh THA Theo ước tính của Hội tim mạch châu Âu và Hội tăng huyết áp châu Âu (ESC/ESH) tỷ lệ tăng huyết áp toàn cầu là hơn 1,12 tỷ người trong năm 2015.
Và vào năm 2025 với tổng số người mắc bệnh trên toàn thế giới khoảng gần 1,57 tỷ người [32]. Tăng huyết áp (THA) là một vấn đề rất thường gặp trong cộng đồng. Tỷ lệ người mắc THA ngày càng tăng, và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ.THA thường diễn biến âm thầm và gây ra những biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng người bệnh hoặc để lại gánh nặng tàn phế. Tăng huyết áp thường diễn biến âm thầm và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan bộ phận cơ thể và bằng nhiều cách.
THA làm tăng gánh nặng cho tim và hệ thống động mạch. Tim phải làm việc nặng hơn trong một thời gian dài, nên nó có xu hướng to ra và thành tim bị dày lên để bù lại, nhưng nếu quá trình này diễn biến lâu ngày quá giới hạn sẽ dẫn đến suy tim. Tăng huyết áp cũng thúc đẩy và gây ra xơ vữa động mạch. Đây là một bệnh lý nguy hiểm dẫn tới nhiều biến chứng tim mạch (như tai biến mạch não; nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành mạn tính, bệnh động mạch chủ hoặc động mạch ngoại vi …).
Bên cạnh đó, THA còn có thể làm tổn thương thận và mắt. Nguyên nhân THA Phần lớn THA ở người trưởng thành là không có nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% THA có nguyên nhân (THA thứ phát). Nguyên nhân của THA thứ phát có thể được phát hiện thông qua khai thác tiền sử, khám lâm sàng và các kết quả cận lâm sàng thường quy bao gồm [24] - Bệnh thận cấp hoặc mạn tính: viêm cầu thận cấp/mạn, viêm thận kẽ, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước, suy thận. - Do thuốc, liên quan đến thuốc (kháng viêm non-steroid, thuốc tránh thai, corticoid, cam thảo, hoạt chất giống giao cảm trong thuốc cảm/thuốc nhỏ mắt…).
- Cường Andosterone tiên phát (Hội chứng Conn). - Hội chứng Cushing’s ngừng thở khi ngủ. - Yếu tố tâm thần. 2 - Bệnh lý tuyến giáp/cận giáp, tuyến yên.
- Hẹp động mạch thận. - U tủy thượng thận (Pheocromocytome). - Hẹp eo động mạch chủ. - Nhiễm độc thai nghén.
Phân loại THA Hiện nay có nhiều tài liệu hướng dẫn phân độ THA theo chỉ số huyết áp khác nhau. Ở đây chúng tôi lựa chọn phân độ THA theo khuyến cáo của Hội tim mạch Việt Nam năm 2018 theo bảng 1.1 dưới đây [13]: A Bảng 1.1 Phân loại THA theo Hội tim mạch Việt Nam 2022 Phân loại HA tâm thu HA tâm trương Bình thường <130 Và <85 Bình thường cao 130-139 Và/hoặc 85-95 THA độ 1 140-159 và/hoặc 90-99 THA độ 2 ≥160 và/hoặc ≥100 Cơn tăng huyết áp ≥180 và/hoặc ≥110 THA tâm thu đơn ≥140 Và <90 độc Như được trình bày trong Bảng 1, được định nghĩa tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu (HATT) và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) tương ứng lớn hơn hoặc bằng 140 hoặc 90 mmHg. HA bình thường khi cả HATT < 130 mmHg và HATTr < 85 mmHg. Khi HATT lớn hơn hoặc bằng 130 nhưng dưới 140 mmHg và/hoặc HATTr lớn hơn hoặc bằng 85 nhưng dưới 90 mmHg, bệnh nhân được coi là HA bình thường - cao hoặc tiền THA.
HA bình thường-cao nhằm để xác định những người có thể được điều trị bằng các biện pháp thay đổi lối sống và những người cần được điều trị bằng thuốc nếu có chỉ định. Cơn THA được định nghĩa là HATT và/hoặc HATTr lớn hơn hoặc bằng 180 và/hoặc 120 mmHg; trong tình huống đó cần đánh giá tổn thương cơ quan đích để chẩn đoán THA khẩn cấp hoặc cấp cứu để có hướng xử trí thích hợp. So sánh phân độ THA giữa khuyến cáo 2021 và 2018 [25][32] HATT và HATTr (mmHg) VNHA/VSH 2021 VNHA/VSH 2018 120 – 129 và/hoặc 80 – 84 HA bình thường HA bình thường 130 – 139 và/hoặc 85 – 89 HA bình thường cao HA bình thường cao 140 – 159 và/hoặc 90 – 99 THA độ 1 nhẹ THA độ 1 160–179 và/hoặc 100 – 109 THA độ 2 ≥160 hoặc≥100 THA độ 2 nặng ≥180 và/hoặc ≥110 THA độ 3 ≥140 và <90 THA tâm thu đơn độc THA tâm thu đơn độc Nếu HA không cùng loại thì chọn mức HATT hay HATTr cao nhất. Giá trị HA là giá trị trung bình của 2 lần đo.
Yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ quan đích, và phân tầng nguy cơ THA Chỉ số huyết áp nhiều khi không phản ánh đúng tình trạng bệnh lý và khả năng tử vong, do đó mức độ diễn biến của bệnh tăng huyết áp không chỉ dựa vào chỉ số huyết áp mà còn theo các yếu tố nguy cơ và tổn thương cơ quan đích. Các mức độ nguy cơ là nguy cơ thấp, trung bình, cao và rất cao để phân định nguy cơ tử vong và tần suất tim mạch. Khi đánh giá nguy cơ tim mạch khuyến cáo vẫn sử dụng các thông số liên quan đến tổn thương cơ quan đích và tổn thương cơ quan mức cận lâm sàng. Các biến đổi chỉ số cận lâm sàng do THA là chỉ điểm cho nguy cơ tiến triển bệnh tim mạch do đó bệnh nhân THA nên chú ý theo dõi định kỳ trong quá trình điều trị.
Các yếu tố nguy cơ được trình bày trong bảng 1. Các yếu tố ảnh hưởng nguy cơ tim mạch của bệnh nhân THA[10]. Đặc điểm dân số và các thông số cận lâm sàng Giới (nam > nữ) Tuổi Tăng trọng hoặc béo phì Tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch sớm (tuổi nam < 55 và nữ < 65) Nhịp tim (trị số khi nghỉ > 80/phút) Mãn kinh sớm Thuốc lá – đang hút hoặc đã hút Cholesterol toàn bộ và HDL-C Uric acid Đái tháo đường Lối sống tĩnh tại Tiền sử gia đình hoặc người thân mắc bệnh THA sớm Tổn thương cơ quan đích không có triệu chứng Bệnh thận mạn mức độ vừa với eGFR > 30-59 mL/ph/1.73 m2 (BSA) hoặc bệnh thận mạn nặng với eGFR < 30 mL/phút/1.73 m2 ECG dày thất trái Chỉ số cẳng chân−cổ tay < 0.9 Bệnh võng mạc tiến triển: xuất huyết hoặc xuất tiết, phù gai thị Cứng mạch: HA mạch (ở người lớn) ≥ 60 mmHg Vận tốc sóng mạch (PWV) ĐMC- đùi > 10 m/s Siêu âm tim DTT Albumine niệu vi thể hoặc tăng tỉ lệ albumin-creatinine Bệnh tim mạch đã xác định Bệnh mạch não: Đột quị thiếu máu cục bộ, xuất huyết não, TIA Suy tim, bao gồm Suy tim với EF bảo tồn Hiện diện mảng vữa xơ qua hình ảnh Bệnh Mạch Vành: nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, tái tưới máu cơ tim 5 Bảng 1. Phân tầng nguy cơ THA[13] 1.
Đại cương về điều trị THA 1. Nguyên tắc và mục tiêu điều trị THA Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài. Mục tiêu điều trị cần đạt được là “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch” [13]. Khuyến cáo mục tiêu điều trị THA của Hội Tim mạch học Việt Nam 2022 ở người > 18 tuổi [22]: - Mục tiêu điều trị THA là chọn phương thức điều trị có chứng cứ giảm tối đa nguy cơ lâu dài toàn bộ về bệnh tim mạch, tử vong chung (I A).
- Điều trị kiểm soát cùng lúc tất cả các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm và các bệnh đồng mắc kèm theo các khuyến cáo hiện hành (I A) - Xác định ngưỡng HA ban đầu cần điều trị và đích HA cần đạt theo từng cá nhân hóa: dựa vào độ THA, bệnh phối hợp và nhóm tuổi (I A). Huyết áp mục tiêu mới nhất của Hội Tim Mạch Việt Nam năm 2022 như sau: Đích đầu tiên cho tất cả các bệnh nhân là HA < 140/90 mmHg (Khuyến cáo I,A). Nếu bệnh nhân dung nạp tốt phải xem xét đích ≤ 130/80 mmHg cho đa số các bệnh nhân THA(Khuyến cáo I,A). Đích HATTr < 80 mmHg phải được xem xét cho tất cả các bệnh nhân (Khuyến cáo IIa, B)[13].
Ngoài khuyến cáo đích chung cần xem xét khoảng ranh giới 6 đích , vì trong điều trị THA có chứng cứ hiệu quả điều trị theo biểu đồ đường cong J nhằm bảo đảm an toàn khi hạ thấp HA theo bảng dưới đây như sau: Bảng 1. Ranh giới đích điều trị THA[13] 1. Điều trị Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc: Bắt đầu điều trị: điều trị bằng thuốc nên được áp dụng ngay với các BN có HA ≥ 140/90 mmHg mà phương pháp thay đổi lối sống tích cực không có hiệu quả. Đối với BN THA độ I có nguy cơ trung bình, cao hoặc THA độ II, III, điều trị bằng thuốc nên được áp dụng ngay lập tức sau khi chẩn đoán, thường được bắt đầu bằng 2 thuốc.
Bắt đầu điều trị bằng thuốc cũng nên được chỉ định ngay nếu bắc sỹ tin rằng, điều đó là cần thiết để nhanh chóng kiểm soát được huyết áp hoặc ghi nhận được các nguy có tim mạch của BN. Đối với BN trên 80 tuổi, nên bắt đầu điều trị bằng thuốc khi HA ≥ 160/90 mmHg, trong trường hợp này, HA mục tiêu được xác định khuyến cáo là < 160/90 mmHg, trừ trường hợp BN có thêm bệnh lý mắc kèm như ĐTĐ, bệnh thận mạn thì mức HA mục tiêu < 140/90 mmHg được cân nhắc [22]. Việc bắt đầu điều trị bằng thuốc cũng được cân nhắc kỹ lưỡng giữa phân độ HA, đánh giá các yếu tố nguy cơ (bảng 1.4), tổn thương cơ quan đích và bệnh cảnh lâm sàng[13]. Sơ đồ điều trị THA theo VNHA/VSH 2022[13] Lựa chọn thuốc điều trị THA: Hiện nay có 5 nhóm thuốc chính để điều trị THA, bao gồm ức chế men chuyển (ƯCMC), chẹn thụ thể Angiotensin II (CTTA), chẹn kênh 8 Calci (CKCa), thuốc chẹn Beta và lợi tiểu [12][31][27].
Trong đó nhóm thuốc chẹn Beta không được sử dụng trong một số hướng dẫn Tùy theo khả năng kiểm soát được HA của từng BN mà bác sỹ chọn 1 hay 2-3 thuốc hạ HA trong điều trị. Hầu hết BN cần hơn 1 thuốc để kiểm soát tốt HA của họ [27][31].