Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về Bệnh viện An Sinh 1. Giới thiệu chung về bệnh viện Bệnh viện An Sinh là một bệnh viện đa khoa theo tiêu chuẩn quốc tế. Diện tích khoảng 10.
Quy mô 150 giường bệnh. Với cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại. Khái quát về trung tâm lọc máu Trung tâm Lọc máu Bệnh viện An Sinh với qui mô 35 máy lọc máu (trong đó có 4 máy HDF online). Năm 2013 triển khai chạy HDF-online cho người bệnh có chỉ định.
Đầu năm 2019 Trung tâm Lọc máu triển khai thêm kỹ thuật lọc màng bụng liên tục 24 giờ bằng máy. Hiện tại Trung tâm đang lọc máu định kỳ cho hơn 300 bệnh nhân. Lọc máu cấp cứu cho bệnh nhân suy thận cấp, ngộ độc… từ các bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Lọc máu cho bệnh nhân ngoại kiều, Việt kiều đến Việt Nam sinh sống, làm việc và du lịch.
Trang thiết bị - Máy lọc máu Nipro Surdial 55 plus màn hình tinh thể lỏng thế hệ mới nhất được sản xuất 2017-2018 của công ty NIPRO nhập từ Nhật Bản. - Máy HDF online của công ty Fresenius nhập từ Đức. - Hệ thống xử lí nước OSMONIC E4 theo tiêu chuẩn AAMI nhập từ Hoa Kỳ có thể cung cấp cho 70 máy lọc máu. - Tái sử dụng màng lọc bằng hệ thống máy rửa màng lọc RENATRON II của Hoa Kỳ 1.
Nhân sự Bao gồm 5 người: - TS. BS Nguyễn Đức Lộc (Trưởng khoa) - BSCKI. Vũ Đình Hùng, BSCKI. Đào Xuân Hiến, BSCKI.
4 - Điều dưỡng trưởng Phan Hiệp Thành Nhân. Tổng quan về suy thận mạn tính [54,58] 1. Định nghĩa Suy thận mạn tính là hậu quả cuối cùng của nhiều bệnh thận, do viêm nhiễm mạn tính, xơ hoá tổ chức nhu mô thận làm giảm dần số lượng đơn vị chức năng thận (nephron), chức năng thận giảm tuần tiến không hồi phục. Thận mất dần khả năng điều chỉnh nội môi, mất khả năng bài tiết chất cặn bã sản sinh ra trong quá trình chuyển hoá, mất khả năng điều hoà kiềm toan, rối loạn nước điện giải, gây tổn thương ở nhiều cơ quan nội tạng.
Bệnh nhân sẽ tử vong do nhiễm toan, do tăng K+ máu, do suy tim, phù phổi, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Số lượng đơn vị chức năng nguyên vẹn quyết định chức năng của thận. Mỗi đơn vị chức năng gồm hai bộ phận chủ yếu: Cầu thận và ống thận. Nếu một trong hai bộ phận bị tổn thương, đơn vị chức năng đó bị mất vai trò sinh lý.
Chức năng của thận liên quan mật thiết đến số lượng đơn vị chức năng nguyên vẹn. Số lượng đơn vị chức năng giảm bao nhiêu thì mức lọc cầu thận càng giảm bấy nhiêu. Khác với suy thận cấp tính, suy thận mạn tính các chức năng của thận: chức năng điều hoà chuyển hoá muối nước, điều hoà chuyển hoá kiềm toan và điện giải, điều hoà huyết áp, chức năng tạo máu, chức năng chuyển hoá canxi đều bị suy giảm, ngược lại trong suy thận cấp tính suy giảm chức năng điều hoà kiềm toan, rối loạn chức năng chuyển hoá muối nước chiếm ưu thế, nhiễm toan chuyển hoá cấp tính, tăng kali máu, tăng khoảng trống anion. Nguyên nhân của suy thận mạn tính 1.
Viêm cầu thận mạn tính - Viêm cầu thận tăng sinh gian mạch. - Xơ hoá cầu thận ổ đoạn. - Viêm cầu thận màng. - Viêm cầu thận màng tăng sinh.
- Viêm cầu thận tăng sinh ngoài mao mạch. - Viêm cầu thận do Luput ban đỏ hệ thống. 5 - Viêm cầu thận do viêm các mạch máu nhỏ dạng nút. - Bệnh u hạt Wegener.
- Hội chứng Goodpasture. - Viêm cầu thận do nhiễm khuẩn. - Viêm cầu thận do thuốc. Suy thận mạn tính do viêm cầu thận thường gặp ở tuổi trẻ, suy thận giai đoạn mất bù và tử vong hầu hết xảy ra ở lứa tuổi trên dưới 30 tuổi.
Suy thận mạn tính do viêm cầu thận chiếm tỷ lệ 50-60% tổng số bệnh nhân suy thận. Viêm bể thận-thận mạn tính Chiếm tỷ lệ 25% suy thận giai đoạn cuối, suy thận giai đoạn cuối thường xuất hiện ở lứa tuổi trên dưới 50 tuổi. Viêm bể thận-thận hầu hết xảy ra sau sỏi hệ thống tiết niệu, mầm bệnh chủ yếu là E. Các bệnh mạch máu thận - Hẹp động mạch thận.
- Huyết khối động mạch thận. - Huyết khối tĩnh mạch thận. - Xơ hoá tiểu động mạch thận-thận. - Tăng HA kịch phát.
- Tổn thương mạch máu thận do xơ cứng bì toàn thể. Các bệnh chuyển hoá Bệnh gout, đái đường, oxalat niệu, canxi niệu. Các bệnh thận nhiễm độc - Dị ứng với các hoá chất. - Nhiễm độc kim loại nặng, nhiễm độc thuốc.
Tắc hệ thống dẫn niệu - Phì đại tiền liệt tuyến. - Rối loạn thần kinh bàng quang. - U bàng quang làm tắc lỗ niệu đạo bàng quang. - U sau phúc mạc chèn ép vào niệu quản.
Lao thận Lao thận gây xơ teo cả hai thận hoặc xơ hoá chít hẹp niệu quản. Lao thận thường kết hợp với lao tiết niệu sinh dục: đái dắt đái buốt, đái máu đại thể, viêm mào tinh hoàn. Các protein niệu bất thường - Bệnh chuỗi nhẹ LCDD (light chain deposition disease). - Bệnh chuỗi nặng HCĐ (heavy chain deposition disease).
- Amyloidosis tiên phát hoặc thứ phát. Các bệnh thận bẩm sinh Thận đa nang, hội chứng Alport, nhiễm axit ống thận mạn tính. Sinh lý bệnh học của suy thận mạn tính [58] Hai thận có 2,4 triệu đơn vị chức năng gọi là nephron, được cấu tạo bởi hai bộ phận quan trọng: Cầu thận và ống thận, hai bộ phận này liên quan mật thiết với nhau, chỉ cần một trong hai bộ phận bị tổn thương, đơn vị chức năng sẽ mất khả năng hoạt động. Trong điều kiện bình thường 2,4 triệu đơn vị chức năng luân phiên nhau hoạt động, bảo đảm sự ổn định của nội môi.
Mức lọc cầu thận giảm song song với giảm số lượng nephron. Trong suy thận mạn tính, số lượng đơn vị chức năng nguyên vẹn giảm dần, khi số lượng đơn vị chức năng chỉ còn 1/10, thận mất hoàn toàn khả năng bài tiết các chất cặn bã sản sinh ra trong quá trình chuyển hoá của tế bào, chủ yếu là sản phẩm chuyển hoá của protein, bởi vì sản phẩm chuyển hoá của glucid và lipid là nước và CO2 được đào thải qua hô hấp, qua da. Ngược lại các sản phẩm chuyển hoá của protein là những chất hữu cơ hoà tan trong nước và được đào thải qua thận. Sự ứ trệ các sản phẩm của chuyển hoá protein dẫn đến rối loạn nội môi.
Những sản phẩm chuyển hoá của protein là: - Ure: Chiếm 80% các sản phẩm chuyển hoá protein. - Hợp chất của guanidine: Guanidine, methylguanidine, creatinin. - Urate và hipurate. 7 - Sản phẩm chuyển hoá cuối cùng của acid nhân: Acid uric.
- Sản phẩm chuyển hoá cuối cùng aliphatic amine. - Sản phẩm chuyển hoá cuối cùng của acid aminaromati: Tryptophan, tyrosnin, phenylalanin. - Một số chất nitrogene khác: Polyamin, myoinositol, phenol và indol. Trong số các sản phẩm của chuyển hoá protein, ure chiếm 80% có vai trò quan trọng trong sinh lý bệnh học của suy thận mạn tính.
Bệnh cảnh lâm sàng của suy thận mạn tính liên quan mật thiết với nồng độ của ure máu. Quá trình chuyển hoá protein và các acid amine bao gồm quá trình chuyển amin và khử amin, quá trình này sản sinh ra NH3 ở tổ chức. NH3 là chất độc đối với cơ thể. Vì vậy NH3 sẽ được kết hợp với glutamat và trở thành glutamin dưới tác dụng của men glutamat synthetase.
Glutamin là một chất không độc được vận chuyển đến tế bào ống thận và tế bào gan. Ở gan, NH3 được tách khỏi glutamin dưới tác dụng của men glutaminase. NH3 sẽ kết hợp với CO2 và phosphat tạo thành carbamylphosphate và được chuyển vào vòng ornitine tạo ra sản cuối cùng là ure. Ở trong tế bào ống thận NH3 được khử từ glutamin sẽ thẩm lậu qua màng tế bào vào ống thận kết hợp với Ion H+ tạo ra NH4+.
NH+4 được thải qua nước tiểu dưới dạng amoni clorua và (NH4)2SO4. Sơ đồ như sau: Khi suy thận ure máu sẽ tăng cao do những nguyên nhân sau: - Do số lượng đơn vị chức năng thận ngày một giảm dần. Số lượng đơn vị chức năng (nephron) nguyên vẹn còn lại không đảm đang nổi chức năng đào thải ure nói riêng và các chất độc khác nói chung. - Quá trình khử NH3 tại ống thận giảm xuống.
Vì vậy quá trình khử NH3 chủ yếu xảy ra ở gan làm tăng tổng hợp ure tăng, giảm quá trình đào thải ure ở thận dẫn đến tăng ure máu. - Trong suy thận mạn chuyển hoá phân giải protein tăng do tác dụng toan hoá, sản sinh nhiều NH3 ở tổ chức, đòi hỏi gan tăng cường tổng hợp ure nhằm giải quyết tình trạng dư thừa NH3 ở tổ chức. Các tế bào trong cơ thể hoạt động trong môi trường nhất định với độ pH trong khoảng 7,34 - 7,45 với áp lực thẩm thấu 290-320 mosm/kg H 2O. Tăng ure máu đã gây ra tình 8 trạng rối loạn nội môi dẫn đến giảm khả năng hoạt động của tế bào ở trong toàn bộ các cơ quan của cơ thể.
Chính vì vậy, tăng ure máu trong suy thận mạn tính đã gây tổn thương nhiều cơ quan. Sự phục hồi chức năng của các cơ quan khi và chỉ khi giảm ure máu bằng chạy thận nhân tạo hoặc thẩm phân phúc mạc hoặc bằng ghép thận. Rối loạn do suy thận mạn tính - Tăng ure máu: + Rối loạn điều hòa thân nhiệt + Rối loạn chuyển hoá glucid + Rối loạn chuyển hoá lipid + Rối loạn chuyển hoá protein - Rối loạn kiềm toan - Rối loạn điện giải - Tăng huyết áp - Thiếu máu 1. Triệu chứng của bệnh suy thận mạn tính * Triệu chứng của suy thận mạn tính Bảng 1.
Triệu chứng của bệnh suy thận mạn tính CÁC TRIỆU CHỨNG CHỦ YẾU CỦA SUY THẬN MẠN 1. Tiêu hoá: - Tăng HA. - Buồn nôn và nôn. - Suy tim do : - Viêm niêm mạc dạ dày- ruột, loét dạy + Tăng HA.
+ Bệnh lý cơ tim do tăng ure máu. - Chảy máu đường tiêu hoá. - Phù phổi cấp tính. 9 CÁC TRIỆU CHỨNG CHỦ YẾU CỦA SUY THẬN MẠN - Viêm màng ngoài tim, tràn dịch, - Viêm niêm mạc miệng, tuyến nước tràn máu màng ngoài tim.
bọt, loét mép, môi se rớm máu - Ngừng tim do tăng kali. - Viêm phúc mạc. Phổi: - Cổ chướng không rõ căn nguyên - Viêm phổi do tăng ure máu. Thần kinh cơ: - Viêm màng phổi.
- Teo cơ, da khô, nhiễm canxi. - Tràn máu màng phổi. - Viêm đa dây thần kinh. - Phù phổi cấp - Trạng thái u ám, giảm trí tuệ.
Huyết học: - Co giật, chuột rút do giảm canxi.