Luận văn thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã minh quang huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc năm 2016

Luận văn phân tích thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016.

Trường đại học

Đại học Y tế Công Cộng

Chuyên ngành

Y tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

132
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng quản lý bệnh nhân tăng huyết áp

Quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trong năm 2016 cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Theo nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý đạt yêu cầu chỉ là 34%. Cụ thể, 67,5% bệnh nhân được cán bộ y tế nhắc nhở và ghi thời gian tái khám vào sổ theo dõi. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân điều trị thuốc đúng, đủ và đều chỉ đạt 12,6%. Điều này cho thấy sự thiếu hụt trong hoạt động quản lý và theo dõi bệnh nhân. Hơn nữa, tỷ lệ bệnh nhân được theo dõi điều trị thuốc là 57,8%, theo dõi chỉ số huyết áp là 70,9%. Những con số này phản ánh thực trạng quản lý bệnh nhân tăng huyết áp còn nhiều hạn chế, cần có sự can thiệp kịp thời từ các cơ quan chức năng.

1.1. Đặc điểm của bệnh nhân

Đặc điểm của bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang cho thấy sự đa dạng về độ tuổi, giới tính và tình trạng kinh tế. Nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân chủ yếu là người cao tuổi, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Sự hỗ trợ từ gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý bệnh. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân vẫn chưa hiểu rõ về bệnh tăng huyết áp và cách điều trị, dẫn đến việc tuân thủ điều trị không tốt. Điều này cho thấy cần có các chương trình giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận thức của bệnh nhân và gia đình về bệnh lý này.

II. Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bệnh nhân tăng huyết áp

Nghiên cứu đã chỉ ra bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý bệnh nhân tăng huyết áp. Thứ nhất, yếu tố môi trường như luật bảo hiểm y tế và quy định về số lượng thuốc cấp cho bệnh nhân. Thứ hai, yếu tố từ bên cung cấp dịch vụ, bao gồm thiếu trang thiết bị và thuốc men. Thứ ba, yếu tố cá nhân của bệnh nhân như kiến thức và thực hành điều trị. Cuối cùng, yếu tố gia đình, sự hỗ trợ từ người thân còn hạn chế. Những yếu tố này cần được xem xét và cải thiện để nâng cao hiệu quả quản lý bệnh nhân tăng huyết áp.

2.1. Yếu tố từ môi trường

Yếu tố từ môi trường có ảnh hưởng lớn đến quản lý bệnh nhân tăng huyết áp. Luật bảo hiểm y tế hiện hành chưa đáp ứng đủ nhu cầu của bệnh nhân, đặc biệt là trong việc cấp thuốc. Điều này dẫn đến tình trạng bệnh nhân không được điều trị đầy đủ. Hơn nữa, trình độ dân trí không đồng đều cũng là một rào cản lớn trong việc nâng cao nhận thức về bệnh. Cần có sự điều chỉnh trong chính sách bảo hiểm y tế để đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

Để nâng cao hiệu quả quản lý bệnh nhân tăng huyết áp, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, điều chỉnh các quy định liên quan đến số lượng thuốc và thời gian cấp thuốc cho bệnh nhân. Thứ hai, tăng cường truyền thông tư vấn, đa dạng hóa các hình thức truyền thông để nâng cao hiểu biết của bệnh nhân và gia đình. Cuối cùng, cần chú ý đến những bệnh nhân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và những bệnh nhân tăng huyết áp mới được phát hiện. Những giải pháp này sẽ góp phần cải thiện tình hình quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang.

3.1. Cải thiện chính sách bảo hiểm y tế

Cải thiện chính sách bảo hiểm y tế là một trong những giải pháp quan trọng. Cần có sự điều chỉnh để đảm bảo bệnh nhân được cấp đủ thuốc và dịch vụ y tế cần thiết. Điều này không chỉ giúp bệnh nhân tăng huyết áp được điều trị hiệu quả mà còn giảm gánh nặng cho hệ thống y tế. Hơn nữa, việc nâng cao nhận thức về quyền lợi của bệnh nhân trong việc sử dụng bảo hiểm y tế cũng rất cần thiết để họ có thể tiếp cận dịch vụ y tế một cách tốt nhất.

23/02/2025
Luận văn thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã minh quang huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc năm 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ THA là bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới, là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch. THA phổ biến ở các nƣớc phát triển và ngày càng tăng ở các nƣớc đang phát triển [38]. Theo thống kê của Liên đoàn tim mạch thế giới năm 2012, trên thế giới có tới 970 triệu ngƣời mắc THA, trong đó ở các nƣớc phát triển chiếm khoảng 330 triệu ngƣời và khoảng 640 triệu ngƣời ở các nƣớc đang phát triển. Dự báo số ngƣời mắc THA ƣớc tính sẽ tiếp tục tăng tới khoảng 1,56 tỷ ngƣời vào năm 2025 [46].

THA rất nguy hiểm vì thƣờng diễn biến âm thầm và gây ra những biến chứng trầm trọng có thể đe dọa tính mạng ngƣời bệnh hoặc để lại gánh nặng tàn phế. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2013, THA đã ảnh hƣởng đến 1 tỷ ngƣời trên toàn thế giới, dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ, đã gây tử vong cho 9,4 triệu ngƣời [47]. Tại Việt Nam, số ngƣời mắc THA trong cộng đồng có xu hƣớng gia tăng qua các năm từ 16,3% năm 2002 lên 25,1% năm 2008 [31]. Đứng trƣớc tình hình đó, năm 2010, dự án phòng chống THA chính thức đi vào hoạt động trở thành một trong những chƣơng trình ƣu tiên và nằm trong chƣơng trình mục tiêu quốc gia.

Năm 2014, hoạt động khám sàng lọc và quản lý bệnh nhân THA đƣợc triển khai ở 1,179 xã/phƣờng trên cả nƣớc, phát hiện 365,182 ngƣời mắc THA. Các bệnh nhân THA đƣợc phát hiện sau sàng lọc đều đƣợc tƣ vấn quản lý tại các cơ sở y tế [6]. Tuy nhiên, quản lý ngƣời bệnh THA tại TYT xã, phƣờng vẫn còn gặp nhiều trở ngại nhƣ thiếu thuốc điều trị HA, chƣa có cơ chế chi trả cho hoạt động tƣ vấn [5]. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2015, đã có 16 xã/phƣờng triển khai dự án đã khám sàng lọc cho 22,681 ngƣời trên 40 tuổi, phát hiện và quản lý 4,806 (21,19%) ngƣời THA [29].

Đến nay, trên địa bàn chƣa có nghiên cứu nào về đánh giá hay mô tả hoạt động quản lý THA nói chung. Xã Minh Quang là một xã miền núi thuộc huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 2013, Minh Quang nằm trong 5 xã1 đƣợc triển khai khám sàng lọc phát hiện và quản lý bệnh nhân THA của tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 2013, số bệnh nhân THA phát hiện và quản lý tại xã Minh Quang là 520 (chiếm 36,4%) lớn nhất trong tổng số bệnh nhân phát hiện đƣợc trong đợt khám sàng lọc [28].

Số bệnh nhân THA quản lý đƣợc tại xã cũng có xu hƣớng tăng lên qua các năm: năm 2014 là 550 ngƣời bệnh THA [22], năm 2015 là 627 ngƣời 1 Minh Quang, Đức Bác, Yên Phƣơng, Ngọc Thanh, An Tƣờng 2 bệnh THA. Năm 2015, Minh Quang là xã có số lƣợng phát hiện và quản lý ngƣời bị THA lớn nhất tại địa phƣơng với 627 ngƣời bệnh THA, chiếm 13% ngƣời THA đƣợc quản lý của tỉnh Vĩnh Phúc [24]. Tổ chức mạng lƣới quản lý bệnh THA tuyến xã, phƣờng có vai trò đặc biệt quan trọng trong chƣơng trình phòng chống THA quốc gia [5]. Trong những năm vừa qua, TYT xã Minh Quang dƣới sự chỉ đạo của Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội (TT PCCBXH) tỉnh đã thực hiện nhiệm vụ triển khai các hoạt động của chƣơng trình THA.

Tuy nhiên trên thực tế, qua sổ sách, báo cáo thì tình hình quản lý bệnh nhân THA tại xã vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét. Cụ thể thuốc điều trị THA tại TYT xã thiếu. Qua khảo sát nhanh, vẫn còn bệnh nhân chƣa hiểu rõ về bệnh THA, ngay cả khi có những hiểu biết nhất định về bệnh THA thì việc thực hành điều trị của bệnh nhân còn hạn chế. Thậm chí có khoảng 7,8% bệnh nhân THA bỏ điều trị giữa chừng [23], [26].

Đứng trƣớc thực tế đó, nhiều câu hỏi đƣợc đặt ra nhƣ: Quản lý bệnh nhân THA tại TYT xã Minh Quang hiện nay đang thực hiện nhƣ thế nào? Có cần điều chỉnh gì không? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến các hoạt động này? Làm thế nào để khắc phục đƣợc những yếu tố cản trở việc thực hiện các hoạt động quản lý bệnh nhân THA? Xuất phát từ thực tế trên để có thêm bằng chứng tin cậy cho việc đề xuất các giải pháp nhằm triển khai các hoạt động quản lý bệnh nhân THA hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang – huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả hoạt động quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016.

4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh tăng huyết áp 1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp Hội THA thế giới cùng với WHO đã quy định huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên đƣợc gọi là THA (HATT ≥140 hoặc HATTr ≥ 90) [33], [44]. Tại Việt Nam, năm 2010 theo Bộ Y tế một ngƣời trƣởng thành (lớn hơn hoặc bằng 18 tuổi) đƣợc gọi là THA khi huyết áp tâm thu (HATT) lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trƣơng (HATTr) lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [2].

Theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC – Join National Committee) lần thứ VI thì THA đƣợc chia làm 3 độ: THA độ I (HATT: 140 – 159 mmHg hoặc HATTr: 90-99 mmHg); THA độ II (HATT: 160 – 179 mmHg hoặc HATTr: 100-109 mmHg) và THA độ III (HATT ≥180mmHg hoặc HATTr ≥ 110 mmHg) [36]. Bộ y tế Việt Nam phân loại THA gần giống với JNC VI chỉ khác là phân độ huyết áp của Bộ Y tế thay tên huyết áp bình thƣờng cao bằng tiền THA nhƣng chỉ số vẫn không đổi và Bộ Y tế có thêm khái niệm THA tâm thu đơn độc (HATT ≥140mmHg, HATTr <90mmHg) (chi tiết phụ lục 8) [2]. Tình hình bệnh tăng huyết áp trên thế giới và ở Việt Nam Theo thống kê của WHO, năm 2014 tỷ lệ THA ở ngƣời lớn từ 18 tuổi trở lên là khoảng 22%. Tỷ lệ mắc THA khác nhau giữa các khu vực, cao nhất ở khu vực Châu Phi với cả hai giới là 30% và thấp nhất là ở khu vực Châu Mỹ là 18%.

Trong tất cả các khu vực thì tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn so với nữ giới, tỷ lệ THA ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình cao hơn so với các nƣớc có thu nhập cao [49]. Ở khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ ngƣời trƣởng thành mắc THA là khoảng 35%. Hàng năm, số tử vong do THA đƣợc ƣớc tính là gần 1,5 triệu ngƣời (9,4%) [39]. Theo số liệu thống kê của một số quốc gia cho thấy tỷ lệ THA cao nhƣng tỷ lệ ngƣời bệnh đƣợc quản lý và kiểm soát đƣợc huyết áp còn thấp: Tại Ấn Độ, năm 2013 tỷ lệ THA là 29,8%.

Tỷ lệ THA đƣợc điều trị ở nông thôn là 25,1% nhƣng chỉ có 10,7% kiểm soát đƣợc huyết áp. Tỷ lệ THA đƣợc điều trị ở khu vực thành thị là 37,6% nhƣng chỉ có 20,2% kiểm soát đƣợc huyết áp [34]. Tỷ lệ THA ở Malaysia năm 2011 là 32,7% ở ngƣời trên 18 tuổi và 43,5% ở ngƣời trên 30 tuổi. Tuy 5 nhiên chỉ có 35% ngƣời bệnh kiểm soát đƣợc huyết áp trong số những ngƣời đã đƣợc điều trị [40].

Tại Việt Nam, dựa trên số liệu thống kê qua các cuộc khảo sát cho thấy tỷ lệ THA đã tăng đáng kể trong 50 năm qua. Năm 1960, một cuộc khảo sát diễn ra ở các tỉnh phía Bắc ƣớc tính có 1% ngƣời trƣởng thành mắc THA. Năm 1992, cuộc khảo sát quốc gia đầu tiên đƣợc tiến hành cho kết quả tỷ lệ mắc THA của nƣớc ta khoảng 11,7%. Năm 2002, tỷ lệ mắc THA tại 4 tỉnh phía Bắc là 16,3% [13].

Năm 2005, tỷ lệ mắc THA ở vùng nông thôn Việt Nam là 18,8% (23,9% đối với nam và 13,7% đối với nữ). Năm 2008, tỷ lệ mắc THA quốc gia là 25,1% ở ngƣời lớn (≥25 tuổi) với 28,3% ở nam giới và 23,12% ở nữ giới. Trong đó, 48,4% ngƣời bệnh biết mình bị THA và chỉ có 29,6% ngƣời đã đƣợc điều trị [31], [45]. Năm 2011, qua báo cáo phòng chống và kiểm soát các bệnh không lây nhiễm cho thấy tỷ lệ THA đã tăng gần gấp đôi trong vòng chƣa đầy 20 năm, THA là yếu tố nguy cơ góp phần lớn nhất vào gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam [45].

Năm 2014, dự án phòng chống THA quốc gia đã khám sàng lọc cho 2,203,893 ngƣời từ 40 tuổi trở lên trên 1,179 xã phƣờng, phát hiện 365,182 (16,6%) ngƣời mắc THA [6]. Các yếu tố nguy cơ với bệnh tăng huyết áp Phần lớn THA ở ngƣời trƣởng thành là không rõ nguyên nhân. Tuy vậy, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh một số yếu tố nguy cơ quan trọng có thể làm huyết áp tăng cao nhƣ sau: Tuổi: càng cao, khả năng đàn hồi của thành mạch càng giảm, thành mạch trở nên cứng hơn vì thế làm cho huyết áp tăng cao. Tại Mỹ, tỷ lệ THA ở ngƣời trƣởng thành là 31,1% nhƣng độ tuổi từ 60 tuổi trở lên thì có tới 65% mắc THA [41].

Ăn mặn: Trên thế giới ngƣời ta thấy ở những vùng mà ngƣời dân ăn quá nhiều muối thì tần suất bệnh THA cao rõ rệt so với các vùng khác. Các thống kê dịch tễ học cho thấy, các quần thể dân cƣ ăn ít muối thì bệnh THA không đáng kể hoặc không thấy [11]. Ở phƣơng Tây, ngay từ thập niên 1970 Phần Lan là nƣớc có chủ trƣơng giảm lƣợng muối ăn sớm nhất ở qui mô quốc gia. Kết quả là sau 30 năm lƣợng muối ăn đã giảm đi một phần ba, và song song đó cả HATT lẫn HATTr đều giảm 10 mm Hg, tử vong do đột quị giảm 75% và tử vong do bệnh mạch vành giảm 80% [37].

6 Sử dụng thuốc lá, thuốc lào: Nicotin có trong thuốc lá, thuốc lào kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch ngoại vi gây THA, hút một điếu thuốc lá HATT có thể tăng lên tới 11 mmHg, kéo dài 20 – 30 phút, hút nhiều có thể có cơn THA kịch phát nguy hiểm, nicotin còn làm nhịp tim đập nhanh hơn, cơ tim phải co bóp nhiều hơn [11]. Sử dụng rượu bia: Uống rƣợu, bia quá mức cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại Minh Quang, Tam Đảo, Vĩnh Phúc 2016 là một nghiên cứu quan trọng phân tích tình hình quản lý và điều trị bệnh nhân tăng huyết áp tại địa phương này. Tài liệu làm nổi bật các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý bệnh, bao gồm nhận thức của người bệnh, nguồn lực y tế, và sự tuân thủ điều trị. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý y tế và chuyên gia trong việc cải thiện chiến lược chăm sóc bệnh nhân tăng huyết áp.

Để hiểu sâu hơn về vấn đề tuân thủ điều trị tăng huyết áp, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ đánh giá sự tuân thủ điều trị tăng huyết áp trong ngăn ngừa đột quỵ thiếu máu não tái phát tại tỉnh Sóc Trăng. Ngoài ra, nghiên cứu về thực trạng quản lý điều trị ngoại trú bệnh nhân tăng huyết áp tại Phú Thọ cũng cung cấp góc nhìn toàn diện về các thách thức và giải pháp trong quản lý bệnh. Để khám phá thêm về yếu tố ảnh hưởng, hãy xem luận văn về quản lý điều trị ngoại trú tại Hiệp Hòa. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về chủ đề này.