ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là một trong các bệnh mạn tính không lây, chiếm tỉ lệ cao trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam [93]. Tăng huyết áp cũng là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây bệnh mạch vành, suy tim, đột quỵ và bệnh mạch máu ngoại biên [22]. Tuân thủ dùng thuốc điều trị, thay đổi hành vi sức khỏe như giảm sử dụng muối ăn, vận động thể lực là chủ yếu trong việc kiểm soát huyết mục tiêu [11],[17],[55],[78]. Hiệu quả trong việc điều trị tăng huyết áp đã chứng minh trong các hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới và Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam [1],[22].
Tuy nhiên việc điều trị và kiểm soát huyết áp tối ưu tại các cơ sở y tế vẫn chưa đạt tỉ lệ cao [17],[20],[18],[29]. Rất nhiều nguyên nhân đưa đến tình trạng NB không tiếp tục điều trị, hoặc không tuân thủ điều trị, hơn nữa do tác động nhiều yếu tố liên quan đến lối sống, chế độ ăn uống và vận động cho đến giai đoạn có biến chứng, NB mới quan tâm [93]. Do đó từ những kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị chỉ đạt từ 20 đến 30% [17],[18],[29]. Tại Việt Nam kết quả của Trần Thị Mỹ Hạnh cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị thuốc chỉ đạt 11,9% và Nguyễn Tuấn Khanh là 26,8% [24],[29].
Để đạt được hiệu quả tối ưu trong điều trị bệnh THA, NB cần phải được can thiệp từ hệ thống y tế nhằm tác động lên nhận thức của NB về các yếu tố gây nguy cơ và diễn biến bất lợi của bệnh. Từ những đặc điểm về thể chất và lối sống có thể tăng nguy cơ của bệnh THA như béo phì, thói quen uống rượu bia, hút thuốc, lối sống ít vận động, chế độ ăn uống ít rau, củ quả và quá nhiều muối… Nhận thức rõ hơn về các yếu tố gây nguy cơ này, NB có thể tự kiểm soát tốt hơn và tham gia nhiều hơn vào việc tự quản lý tình trạng sức khỏe của mình [11],[26],[70],[71]. Từ ý thức rằng bệnh này cần phải điều trị lâu dài, và có thể kiểm soát được các nguy cơ thông qua việc thay đổi lối sống tích cực, tuân thủ chế độ dùng thuốc và theo dõi thường xuyên chỉ số huyết áp. Ngoài ra tự theo dõi chỉ số huyết áp tại nhà dưới sự hướng dẫn của nhân viên y tế, cùng với điều chỉnh 4 lối sống và chế độ ăn uống lành mạnh là cách tốt nhất để đạt huyết áp mục tiêu [22].
Nhiều chương trình tác động hỗ trợ từ hệ thống y tế qua truyền thông, tư vấn nhóm hay cá nhân có thể được thực hiện vào thời điểm và điều kiện thuận tiện [18],[29],[57],[71], hỗ trợ NB thay đổi hành vi có lợi cho sức khỏe như tuân thủ dùng thuốc, hoạt động thể chất, và chế độ ăn uống. Tác động này hỗ trợ NB đạt được huyết áp mục tiêu. Tuy nhiên, tại Việt Nam các chương trình can thiệp tác động lên cá nhân qua từng giai đoạn thay đổi dựa trên lý thuyết tác động qua các buổi truyền thông trực tiếp hay gián tiếp bằng điện thoại có hiệu quả hay không, lúc mà nhân viên y tế làm việc trong môi trường lâm sàng bận rộn. Một nghiên cứu can thiệp có đối chứng được thực hiện để đánh giá hiệu quả của chương trình chăm sóc liên tục nhằm vào mục tiêu hỗ trợ NB THA kiểm soát được huyết áp mục tiêu qua các hoạt động thay đổi hành vi sức khỏe và tuân thủ điều trị thuốc.
Hiệu quả đã chứng minh chương trình chăm sóc sức khỏe NB THA như một mô hình rất khả thi nhằm giảm các yếu tố tăng nguy cơ bệnh tim mạch của NB tăng huyết áp [22],[94]. Mục tiêu của chương trình trong chín tháng thực hiện chăm sóc là: 1) Xác định hiệu quả của Chương trình chăm sóc liên tục nhằm cải thiện và duy trì kiểm soát huyết áp mục tiêu ở những NB đang điều trị ngoại trú tại các phòng khám. 2) Xác định sự cải thiện về các chỉ số sức khỏe huyết áp, chỉ số khối cơ thể (BMI) và tự báo cáo hành vi tuân thủ thuốc điều trị, vận động, sử dụng muối ăn, rau, củ, quả, trái cây, và sử dụng rượu/ bia, hút thuốc lá. 3) Xác định chỉ số chất lượng cuộc sống của NB (Sơ đồ 1.
Khung nghiên cứu). 5 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả chương trình chăm sóc liên tục trên NB tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại các phòng khám nội trong 5 bệnh viện Thống Nhất, Tân Phú, Quận 11, Quận 2 và bệnh viện An Sinh. Mục tiêu cụ thể 1. So sánh tỉ lệ đạt huyết áp mục tiêu ở thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng kết thức chương trình ở nhóm NB được chăm sóc liên tục và nhóm được chăm sóc thường quy.
So sánh tỉ lệ tuân thủ điều trị thuốc, dinh dưỡng, mức độ vận động thể lực, thừa cân/béo phì, sử dụng rau, củ quả, muối ăn, rượu/bia, hút thuốc lá, ở nhóm chăm sóc liên tục và nhóm chăm sóc thường quy ở thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng kết thúc chương trình 3. So sánh số cuộc gọi trung bình của NB cho điều dưỡng và số lần nhập viện trung bình ở nhóm chăm sóc liên tục và nhóm chăm sóc thường quy ở thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng kết thúc chương trình. So sánh điểm số chất lượng cuộc sống trung bình ở nhóm chăm sóc liên tục và nhóm chăm sóc thường quy ở trước thời điểm can thiệp và sau 9 tháng kết thúc chương trình. Xác định tỉ lệ các mức độ hài lòng của NB về chương trình chăm sóc liên tục của điều dưỡng sau can thiệp.
6 ĐẦU VÀO CHƯƠNG TRÌNH ĐẦU RA Người bệnh THA CHĂM SÓC LIÊN TỤC Người bệnh THA - Chỉ số mục tiêu Điều dưỡng Người bệnh - Chỉ số mục tiêu + HATT và HATTr + HATT và HATTr Tư vấn, -Nhận - Hành vi sức khỏe thức tác - Hành vi có lợi cho hướng dẫn + Tuân thủ điêu trị hại và sức khỏe thuốc diễn + Tuân thủ điều trị Chăm sóc, thuốc + Dinh dưỡng: rau, biến theo dõi, + Dinh dưỡng: rau, quả và muối ăn của truyền quả và muối ăn + Vận động THA. thông, tác + Vận động + BMI -Thực động + BMI + Sử dụng rượu/ bia hành + Hút thuốc lá + Sử dụng rượu/ bia thay đổi - Chất lượng cuộc sống Chăm sóc + Hút thuốc lá hành vi Theo dõi sức - Chất lượng cuộc Khuyến khỏe sống khích qua qua các - Hài lòng chương các giai giai trình chăm sóc đoạn đoạn Điều dưỡng tham gia: - Điều dưỡng đang làm việc tại các phòng khám - Có chứng chỉ hành nghề - Tham gia khóa huấn luyện 6 ngày: Bệnh lý THA, biến chứng bệnh, kỹ năng truyền thông, giáo dục, và nhận biết đánh giá các giai đoạn thay đổi hành vi. Kết quả đạt > 95% sau khóa huấn luyện. Khung nghiên cứu 7 Chương II.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tính cấp thiết của đề tài Tử vong toàn cầu hiện nay từ các bệnh mạn tính không lây nhiễm (NCDs) cao và đang tăng lên nhanh. Trong các bệnh NCDs có bệnh tăng huyết áp (THA) là một hội chứng tim mạch tiến triển, diễn tiến thầm lặng trong thời gian dài 15 - 20 năm đầu, không gây bất cứ triệu chứng gì [92]. THA có xu hướng tăng dần, tăng nhanh theo tuổi [31],[55].
Ngoài ra THA thường gây tổn thương ở các cơ quan đích như: Tim, thân, não, mắt và động mạch [30]. Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Lân Việt, ở Việt Nam vào năm 2000 tỉ lệ THA ở người lớn chiếm khoảng 16,3%, năm 2009 là 25,4% và năm 2016 tỉ lệ này tăng đến 48%. Quyết định 3756/QĐ-BYT tháng 6 năm 2018 của Bộ Y tế về hướng dẫn hoạt động dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và quản lý một số bệnh không lây nhiễm phổ biến cho tuyến y tế cơ sở, nhằm hướng dẫn người dân thay đổi hành vi lối sống, nâng cao sức khỏe bao gồm các hoạt động như thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý: giảm muối, chất béo; tăng cường rau xanh và vận động thể lực, đặc biệt ở những người hút thuốc lá, thuốc lào; vận động mọi người tham gia các chương trình nâng cao sức khỏe tại địa phương, nơi làm việc và học tập; Hỗ trợ chuyên môn cho người đứng đầu thôn, ấp, cơ quan, trường học, triển khai chương trình môi trường làm việc, học tập không khói thuốc, rượu bia [9]. Chương trình chăm sóc sức khỏe liên tục cũng là một trong hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe cho NB có các bệnh NCDs nói chung và bệnh THA nói riêng, góp phần vào công tác dự phòng, nâng cao sức khỏe người dân.
Hiện nay, tại một số cơ sở y tế, đặc biệt là bệnh viện tư nhân áp dụng chương trình này, chăm sóc và theo dõi NB liên tục, nhằm nhắc nhỡ NB tuân thủ điều trị và tái khám đúng thời gian. Mục đích làm tăng cường sự hài lòng của NB và đây cũng là phương pháp giữ và thu hút NB đến cơ sở y tế của mình. Tuy nhiên chưa tìm được nghiên cứu về việc chăm sóc liên tục tại Việt Nam. Hoạt động 8 chăm sóc của điều dưỡng đang phát triển trở thành chuyên nghiệp hóa.
Thực hiện Thông tư 07/2011/TT-BYT về hướng dẫn chăm sóc NB và Thông tư liên tịch 26/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về chức năng và nhiệm vụ, điều dưỡng phải chăm sóc và theo dõi NB từ lúc nhập viện điều trị cho đến khi xuất viện về nhà. Kế hoạch hướng dẫn chăm sóc và theo dõi tại nhà phải được thực hiện và theo dõi liên tục của NB. Tóm lại, những vấn đề trên cần thiết trong thực hành chăm sóc liên tục từ cơ sở y tế về đến nhà, nhưng hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu đề cập, giải quyết về những vấn đề cấp thiết trên nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này. Chương trình chăm sóc liên tục 2.
Định nghĩa Chăm sóc liên tục là mở rộng thời gian chăm sóc NB, nhằm đảm bảo, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe liên tục và ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra trong giai đoạn chuyển tiếp từ cơ sở y tế về nhà [61]. Tiếp tục hoạt động chăm sóc là một trong các mục tiêu thực hành điều dưỡng khi lập kế hoạch xuất viện, đặc biệt là khi NB có các vấn đề nguy cơ sức khỏe cần phải theo dõi, chăm sóc liên tục tại nhà, mục đích là phòng ngừa các nguy cơ tái phát và nâng cao tình trạng sức khỏe và giảm tái nhập viện [68].