ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chiến lược phát triển con người một cách toàn diện của Đảng và Nhà nước, chăm sóc sức khoẻ là việc rất quan trọng. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó ngành Y tế là nòng cốt. Để thực hiện tốt được nhiệm vụ ngành Y tế phải xây dựng hệ thống mạng lưới y tế rộng khắp, gần dân; được chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt về chuyên môn nghiệp vụ; đồng thời đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ chính quyền địa phương. Phải xây dựng được nguồn nhân lực y tế vừa có năng lực chuyên môn vừa có đạo đức nghề nghiệp.
Bởi vì, nguồn nhân lực y tế có vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành công hay thất bại trong công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, quyết định đến chất lượng khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Trong thời gian qua, ngành Y tế đã xây dựng được hệ thống mạng lưới rộng khắp, gần dân hơn với hơn 1.400 bệnh viện và hơn 180.000 giường bệnh; số lượng và chất lượng nguồn nhân lực y tế không ngừng tăng trong những năm qua: Tổng số cán bộ y tế tăng: 472.975 (năm 2020), số bác sỹ cho 10.000 dân tăng lên 8,67 (năm 2018) tăng lên 10 (năm 2022); số y bác sỹ cho 10.000 dân tăng từ 13,7 (năm 2018) lên 14,4 (năm 2020) [8]…. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hiện nay ngành y tế đang phải đối mặt với một số vấn đề như: tổng số lao động trong ngành Y tế ở các cơ sở y tế có sự chênh lệch đáng kể, tuyến tỉnh là 149.542 người, tuyến huyện là 113.513 người, còn tuyến xã chỉ 69. Số lượng bác sĩ tập trung ở các các tuyến Trung ương, tỉnh nhiều do vậy tỷ lệ bác sĩ/vạn dân có sự chênh lệch rõ rệt giữa các tuyến cơ sở y tế.Việc quản lý sử dụng nhân lực y tế còn nhiều hạn chế, có hiện tượng “chảy máu chất xám”.
Từ ngày 01/01/2021 - 30/6/2022 trên cả nước có 9.680 nhân viên y tế xin thôi việc, bỏ việc (gồm 3.874 điều dưỡng, 551 kỹ thuật y, 276 hộ sinh, 593 dược, 2.280 viên chức khác). Đây là con số đáng báo động, cho thấy quản lý nhân lực y tế chưa hiệu quả, chính sách lương, thưởng và phụ cấp còn nhiều bất cập, thu nhập thấp, phụ cấp nghề nghiệp, chức 2 vụ còn quá ít không có tính thu hút cạnh tranh giữ chân và phát triển nhân lực y tế… [11]. Trung tâm Y tế thành phố Ninh Bình được thành lập tháng 12/1988 và được kiện toàn theo Quyết định số 399/QĐ-UBND ngày 08/6/2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình. Trung tâm là đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc Sở Y tế tỉnh Ninh Bình.
Từ năm 2022 đến nay, bình quân mỗi ngày, Trung tâm đón tiếp khoảng 300- 400 người đến khám chữa bệnh, cao gấp 2 lần so với năm 2021 [29]. Điều này đòi hỏi nguồn nhân lực y tế phải đáp ứng được về cả số lượng và chất lượng. Vậy trước thực trạng chung của ngành Y tế hiện nay, nguồn nhân lực tại Trung tâm hiện nay như thế nào? Và có những yếu tố nào liên quan đến thực trạng đó? Từ đó tìm ra các giải pháp khả thi để quản lý nguồn nhân lực cho Trung tâm Y tế nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân trong những năm tới là vấn đề cần thiết. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào về chất lượng nguồn nhân lực và các yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực y tế được thực hiện tại Trung tâm Y tế thành phố Ninh Bình.
Chính vì lý do trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Chất lượng nguồn nhân lực y tế tại Trung tâm Y tế thành phố Ninh Bình năm 2024 và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả chất lượng nguồn nhân lực y tế tại Trung tâm Y tế thành phố Ninh Bình, năm 2024. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực y tế tại địa bàn được nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [31, tr2]. Theo giáo trình Nguồn nhân lực của Trường Đại học Lao động – Xã hội do Nguyễn Tiệp chủ biên (2005): “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [31, tr23].
Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2008) “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng, chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”[10, tr55]. Từ các quan điểm trên, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động. Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, là tổng thể của các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động.
Trong phạm vi luận văn, nguồn nhân lực trong tổ chức được hiểu là tổng số cán bộ công chức, viên chức và người lao động có trong danh sách của một tổ chức, làm việc bằng thể lực, trí lực của họ và hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của tổ chức. Hay có thể gọi là lực lượng lao động của tổ chức. Nguồn nhân lực y tế Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì nhân lực y tế được định nghĩa: “Nhân lực y tế là những người tham gia vào các hoạt động với mục đích chính tăng cường 4 sức khỏe cộng đồng”. [49] Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và các nhân viên khác: Nhân viên cấp dưỡng, hộ lý, lái xe, kế toán.
Họ góp phần quan trọng trong việc thực hiện hầu hết chức năng hệ thống y tế” [39]. Nhân lực y tế có đặc điểm đặc thù riêng của ngành như sau: - Nhân lực y tế có trình độ chuyên môn cao và làm việc nhóm tốt: Do đặc thù công việc là chăm sóc sức khỏe Nhân dân, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người nên đòi hỏi nhân viên y tế phải giỏi chuyên môn. Bên cạnh giỏi chuyên môn để làm việc độc lập thì nhân lực y tế cần biết làm việc nhóm tốt để tạo một êkíp làm việc hiệu quả, thực hiện sứ mệnh của “thiên sứ áo trắng” chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. - Thực hiện đúng và chuẩn mực đạo đức nghề y: Họ luôn luôn phải khắc cốt ghi tâm trong lòng lời thề Hippocrates và 12 điều Y đức đã được coi là “Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế” được ban hành kèm theo Quyết định số 2088/ BYT - QĐ ngày 06/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy định về Y đức.
- Thời gian học tập, đào tạo chuyên môn cho nhân viên y tế dài: So với một số ngành chuyên môn khác thì ngành Y có thời gian học tập lý thuyết trên giảng đường và thực tập tại các bệnh viện dài. Đối với bác sĩ thời gian học tập 6 năm, dược sĩ 5 năm, trong khi các ngành khác dài nhất là 5 năm. Tuy nhiên, để hoàn thành tốt nhiệm vụ và đảm bảo mọi thao tác khám chữa bệnh cho người bệnh, giảm thiểu sai sót, đòi hỏi nhân viên y tế phải tăng cường thời gian thực hành, trực tại các bệnh viện, tự học và tự nghiên cứu rất nhiều. - Nhân viên y tế làm việc trong môi trường vất vả, áp lực, lây nhiễm cao: Khi đi làm thì phải NVYT thường xuyên chịu áp lực công việc, căng thẳng, thường xuyên trực đêm, trực vào ngày nghỉ, lễ tết, môi trường làm việc lây nhiễm cao đặc biệt là làm việc tại khoa truyền nhiễm, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS, viêm gan B, C, các dịch bệnh… 5 1.
Chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không chỉ được xem xét dưới góc độ số lượng mà còn ở khía cạnh chất lượng. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực. Theo Nguyễn Tiệp thì “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư” [31]. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở các mặt sau: - Sức khỏe; - Trình độ văn hóa; - Trình độ chuyên môn – kỹ thuật; - Năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; - Tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc); - Phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc và môi trường làm việc; - Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; - Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người lao động.
Còn theo quan điểm Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh thì chất lượng nguồn nhân lực được hiểu như sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”. [10] Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh cao và hội nhập sâu rộng thì chất lượng nguồn nhân lực được coi là chỉ tiêu quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của con người trong một xã hội nhất định. Với các cách hiểu khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực, nhưng nhìn chung lại thì chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất.