Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng điều dưỡng viên. Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng điều dưỡng viên tại Công ty Cổ phần Vacxin Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng điều dưỡng viên tại Công ty Cổ phần Vacxin Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐIỀU DƯỠNG VIÊN 1. Các khái niệm liên quan 1.
Nguồn nhân lực Hiện nay, đã hình thành nên nhiều khái niệm nguồn nhân lực với nhiều cách hiểu hay quan điểm khác nhau từ các trường phái kinh tế, các nhà khoa học, các nhà quản lý và các tổ chức kinh tế quốc tế. Có thể khái quát một số quan điểm về nguồn nhân lực như sau: Theo Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.[24, tr3] Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân”. Theo David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbusch thì: “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai”. Các tác giả này cho rằng kiến thức mà con người tích lũy được trong quá trình lao động sản xuất là mấu chốt vì chính kiến thức đó giúp họ tạo ra của cải, tài sản cho cuộc sống hiện tại và tương lai của chính họ.[24] Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của Người lao động.
Nó là tổng thể nguồn lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó”.[9, tr323] 10 Theo tác giả Nguyễn Tiệp: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và nó khác với nguồn lực khác ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động sáng tạo, tác động và giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội.[20, tr7] Từ các quan niệm trên có thể thấy rằng, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp của họ được huy động vào quá trình lao động.
Như vậy, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động, đối với một quốc gia, nguồn lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người cơ sở đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. NNL là một trong 11 những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Đối với một tổ chức, nguồn nhân lực vừa là mục tiêu vừa là động lực, vừa là yếu tố cơ bản cấu thành nên tổ chức, vừa là điều kiện cho tổ chức tồn tại và phát triển. Vì vậy một tổ chức được đánh giá mạnh hay yếu, phát triển hay tụt hậu phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức đó. Đối với một doanh nghiệp, nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Khi xem xét đánh giá nguồn nhân lực của một tổ chức, thì ngoài việc căn cứ vào quy mô hay số lượng, cơ cấu, thì một tiêu chí không thể bỏ qua đó là chất lượng nguồn nhân lực.
Số lượng nguồn nhân lực, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người, khả năng có thêm (tăng trưởng) hàng năm hay một giai đoạn cụ thể là bao nhiêu. Cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu về loại hình, dân tộc, giới tính, độ tuổi,… Chất lượng nhân lực, là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, năng lực thẩm mỹ,… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Từ những phân tích khái quát trên, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể số lượng, chất lượng và cơ cấu con người với các tiêu chí về thể lực, trí lực, tâm lực để hoàn thành tốt các mục tiêu nhiệm vụ phát triển của tổ chức trong những giai đoạn cụ thể nhất định.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực của các doanh nghiệp được hiểu là nguồn lực con người, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Đó 12 là tổng hợp những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Thể lực của con người thể hiện qua tình trạng sức khỏe của thân thể, sức vóc, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ là việc nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực của con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian làm việc và giới tính….Trí lực của con người thể hiện qua khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết, năng khiếu tài năng, quan điểm, lòng tin, nhân cách, khả năng đúc kết kinh nghiệm và phát triển kiến thức.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cũng được xem trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu về số lượng này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tăng trưởng của doanh nghiệp. Quy mô của doanh nghiệp càng lớn, tốc độ tăng trưởng càng cao cũng sẽ dẫn đến quy mô và tốc độ tăng trưởng càng cao cũng sẽ dẫn đến quy mô và tốc độ tăng trưởng càng cao cũng sẽ dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại.
Về chất lượng, nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: Tình trạng sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc của người lao động. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng quyết định đến việc hoàn thành những mục tiêu hiện tại và tương lai của mỗi tổ chức. Theo tác giả Mai Quốc Chánh và tác giả Trần Xuân Cầu thì: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”.[2, tr18] Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động Xã hội do tác giả Nguyễn Tiệp chủ biên tái xuất bản lần thứ 2 năm 2018 thì “Chất lượng 13 nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực, được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe; trình độ văn hóa; trình độ chuyên môn kỹ thuật (cấp trình độ được đào tạo); năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp (khả năng thực tế về chuyên môn - kỹ thuật); tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc và xã hội; mức độ sẵn sàng tham gia lao động…); phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ với công việc, môi trường làm việc; hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) của người lao động”.[20, tr9] Theo tác giả Bùi Văn Nhơn: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố phản ánh trình độ, kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc”.[15, tr21] Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện thông qua ba mặt thể lực, trí lực, tâm lực.
Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực. Thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, tâm lực là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực trí tuệ thành kết quả hoạt động thực tiễn. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp chất lượng nguồn nhân lực chính là chất lượng đội ngũ lao động trong doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực.
Nó được xem xét trên các mặt như: tình trạng sức khỏe, trình độ văn 14 hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu độ tuổi, giới tính, cơ cấu cấp bậc nhân lực.