Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chuyển đổi số y tế 1. Chuyển đổi số y tế Từ cuối thế kỷ 18, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu với phát minh của động cơ hơi nước và sản xuất cơ khí. Cuộc cách mạng công lần thứ 2 diễn ra vào đầu thế kỷ 20 với sự xuất hiện của điện lực và sản xuất hàng loạt.
Giai đoạn những năm 1970 với thiết bị điện tử, máy tính và internet cùng sản xuất tự động là khởi đầu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 (Error! Hyperlink reference not valid. “Ba cuộc cách mạng đã qua là cơ khí hoá, điện khí hoá và tự động hoá, là máy thay lao động chân tay, và cuộc cách mạng lần thứ tư là thông minh hoá, là máy thay lao động trí óc.” Hiện tại, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 bắt đầu từ những năm 2010 là một xu thế mới với nhiều đột phá và cộng hưởng của công nghệ số hoá đã thực hiện một nền sản xuất mới với chuyển đổi số một cách tổng thể và toàn diện và cốt lõi (Error! Hyperlink reference not valid. Công nghệ số tiêu biểu và nhiều đột phá trong thập niên vừa qua bao gồm điện toán đám mây cloud computing), Internet vạn vật (Internet of things), công nghệ chuỗi khối (blockchain), dữ liệu lớn (big data) và Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence, viết tắt là AI) (Error! Hyperlink reference not valid. Theo Giáo sư Hồ Tú Bảo, Công nghệ số là các công cụ điện tử, hệ thống, thiết bị, HTTT và tài nguyên để tạo ra, lưu trữ và xử lý dữ liệu số”; “Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của các cá nhân và tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất trên môi trường số với các công nghệ số” (Error! Hyperlink reference not valid.
Như vậy, Chuyển đổi số là ứng dụng hay công nghệ số, công nghệ thông tin một cách tổng thể và toàn diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống của các cá nhân và tổ chức, bao gồm cả lĩnh vực y tế. Hay nói cách khác, chuyển đổi số Y tế chính là việc khai thác các ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin để thay đổi và cải thiện tích cực toàn bộ hoạt động y tế trong chăm sóc sức khoẻ, cụ thể: 5 + Tác động đến cách thức lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo điều hành trong nội bộ của các cơ quan, đơn vị trong ngành y tế, hướng đến cách thức lãnh đạo, quản lý công việc và ra quyết định chính xác, kịp thời, hiệu quả dựa trên nền tảng công nghệ số. + Tác động trực tiếp đến việc cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế từ phương thức truyền thống sang phương thức dựa trên nền tảng công nghệ số, góp phần đẩy mạnh việc cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế nhanh chóng, kịp thời, mọi lúc, mọi nơi. + Tác động tới cách thức làm việc, giao tiếp của đội ngũ cán bộ, thầy thuốc và người lao động trong ngành y tế, chuyển đổi phương thức làm việc từ môi trường truyền thống sang môi trường số, hình thành “người thầy thuốc số”.
Chuyển đổi số trong ngành Y tế tại Việt Nam Phát triển chăm sóc sức khoẻ là một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam và việc áp dụng các giải pháp y tế kỹ thuật số đang có nhiều ưu thế và cơ hội phát triển. Theo xu hướng chung của thế giới, Việt Nam đang nỗ lực cải thiện và phát triển hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân. Chính phủ và Bộ Y tế đã xây dựng, hoàn chỉnh các nội dung về thể chế, môi trường pháp lý triển khai CNTT; hạ tầng nền tảng CNTT, Chính phủ điện tử; ứng dụng CNTT trong ngành Y tế để từng bước chuyển đổi số toàn diện trong ngành y tế. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều thách thức tồn tại trong quá trình chuyển đổi số y tế ở Việt Nam.
Người bệnh ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề trong quá trình chăm sóc sức khỏe từ khả năng tiếp cận dịch vụ, chất lượng, cho đến trải nghiệm chăm sóc tổng thể. Năm 2018 tại Việt Nam, cứ 1.000 người thì có 2,9 giường bệnh và 0,8 bác sĩ; ít hơn so với mức trung bình của OECD là 4,7 giường bệnh và 3,3 bác sĩ; ngoài ra 65% dân số Việt Nam sống ở nông thôn có xu hướng di chuyển đến thành thị để được chăm sóc sức khoẻ; các bệnh viện công, nhất là các bệnh viện lớn tại các thành phố lớn đều ghi nhận tình trạng quá tải (12). Bên cạnh đó, Quá trình số hóa tại các cơ sở KCB ở Việt Nam hiện nay còn rời rạc, nhỏ lẻ và chủ yếu được thực hiện ở các bệnh viện công tuyến trung ương và các bệnh viện tư nhân ở các đô thị loại I. Các cơ sở chăm sóc sức khỏe tuyến cơ sở có khả năng tài chính và kỹ thuật hạn chế và mức độ sẵn sàng chấp nhận ứng dụng y tế số thấp hơn (13).
Các dữ liệu về hồ sơ bệnh án của bệnh nhân, thiết bị và dụng cụ y 6 tế, Hệ thống thông tin khám chữa bệnh, phòng thí nghiệm còn rời rạc, việc chia sẻ, kết nối thông tin còn hạn chế. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2021 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” (Error! Hyperlink reference not valid.), trong đó, y tế là một trong 8 lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số giai đoạn 2021-2030. Trên cơ sở đó, Bộ Y tế đã Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 5316/QĐ-BYT ngày 22/12/2020 về Chương trình chuyển đổi số y tế đến năm 2025, với tầm nhìn đến năm 2030 sẽ ứng dụng CNTT tổng thể và toàn diện trong hầu hết các hoạt động, dịch vụ của ngành Y tế, hình thành nền y tế số với các nội dung về quản trị y tế thông minh, phòng bệnh thông minh và KCB thông minh. Các mục tiêu đến năm 2025 là: (1) Phát triển chính phủ số trong y tế, duy trì phát triển xã hội trong y tế, (2) Duy trì các chỉ tiêu trong phòng và chăm sóc sức khỏe và (3) chuyển đổi số trong khám chữa bệnh; mục tiêu đến năm 2030 sẽ tiếp tục duy trì bền vững các mục tiêu đã đạt được đến năm 2025 và phấn đấu đạt các mục tiêu về Chính phủ số trong y tế; Duy trì phát triển xã hội số trong y tế theo các chỉ tiêu đã đạt được ở giai đoạn 2021-2025 và Chuyển đổi số trong khám bệnh, chữa bệnh.
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, Bộ Y tế đã đưa ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để triển khai, bao gồm: - Phát triển nền tảng cho chuyển đổi số; - Phát triển chính phủ số trong ngành Y tế; - Phát triển kinh tế số trong ngành y tế; - Phát triển xã hội số trong ngành y tế; - Một số lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số trong ngành y tế bao gồm Chuyển đổi số trong bệnh viện và chuyển đổi số trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh, góp phần thực hiện thành công chương trình sức khỏe Việt Nam bao gồm các giải pháp phát triển, triển khai các hệ thống, ứng dụng, HTTT trong lĩnh vực y tế dự phòng, hỗ trợ/cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh và quản lý trạm Y tế xã đáp ứng các quy định tại Quyết định số 3532/QĐ-BYT ngày 12/08/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về xây dựng và triển khai hệ thống thông tin quản lý trạm y tế xã, phường, thị trấn. Ứng dụng CNTT trong quản lý khám, chữa bệnh 1. Trên thế giới Với các thành tựu CNTT trong thời đại hiện nay, ứng dụng CNTT và truyền thông trong y tế hay y tế điện tử đã được nghiên cứu, ứng dụng ngày càng nhiều tại cả những nước phát triển và đang phát triển từ những năm 2000. Nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu đã công nhận những đã đóng góp cải tiến rõ rệt của y tế điện tử trong việc thực hiện các giải pháp nâng cao sức khỏe cộng đồng và chất lượng dịch vụ y tế lấy người dân làm trung tâm đại, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân, bảo đảm mọi người dân đều có thể sử dụng các dịch vụ dự phòng, nâng cao sức khoẻ, điều trị, phục hồi chức năng và chăm sóc giảm nhẹ có chất lượng, hiệu quả, đồng thời không phải đối mặt với các khó khăn về tài chính (15, 16) (17).
Một trong các ứng dụng của công nghệ thông tin trong y tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thông tin y tế chất lượng cao và quản lý các thông tin đó là sử dụng các hệ thống thông tin điện tử trong các cơ sở y tế. Tại nhiều cơ sở y tế đặc biệt tại tuyến y tế cơ sở nơi cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu bao gồm KCB, hệ thống thông tin bệnh viện là sự kết hợp của nhiều phân hệ chức năng; hệ thống quản lý thông tin này không chỉ là một chương trình riêng biệt, mà thường sẽ tích hợp với các chương trình quản lý chăm sóc sức khỏe khác, trong đó quản lý khám, chữa bệnh chỉ là một trong số các phân hệ của hệ thống, bên cạnh các chức năng như hồ sơ khám chữa bệnh, quản lý tiêm chủng, quản trị nhân sự, tài chính, trang thiêt bị để tạo thành một hệ thống, HTTT quản lý thông tin duy nhất tại cơ sở y tế đó (18). Hầu hết các nghiên cứu trong vòng 10 năm trở lại đây đều mô tả thực trạng và đánh giá mức độ sử dụng HTTT tại các cơ sở khám, chữa bệnh thông qua HTTT quản lý khám, chữa bệnh hay Hệ thống thông tin trong bệnh viện do sau nhiều năm triển khai, việc sử dụng HTTT đã gắn liền với ứng dụng CNTT, không đơn thuần là sử dụng các công cụ như máy tính, trang web, … để quản lý thông tin, chia sẻ dữ liệu. 8 * Chức năng quản lý khám, chữa bệnh của Hệ thống thông tin quản lý y tế Theo báo cáo Viện Y học Hoa Kỳ về các chức năng chính của hệ thống thông tin y tế năm 2003, các chức năng hệ thống thông tin y tế được nhóm thành tám chức năng cốt lõi sau (19): • • Thông tin và Dữ liệu về Sức khỏe: quản lý và cung cấp các dữ liệu quan trọng cho người sử dụng để đưa ra quyết định, chẩn đoán lâm sàng, dị ứng thuốc, tiền sử bệnh tật, … nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ người dân.