CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ. Khái niệm về CNTT [1] Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin. Người làm việc trong ngành này thường được gọi là dân CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant).
Ở Việt Nam: Khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Khái niệm CNTT Y tế Bệnh viện[3] Trong những năm qua, ứng dụng CNTT trong y tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, các hệ thống thông tin y tế HIS, RIS và PACS được triển khai ứng dụng rộng rãi và hiệu quả, xây dựng dựa trên tiêu chuẩn DICOM và HL7 nhằm hướng tới thống nhất về trao đổi và xử lý thông tin dữ liệu giữa các cơ sở y tế phục vụ công tác quản lý, chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe. Sau đây là một số khái niệm về hệ thống, tiêu chuẩn CNTT y tế ứng dụng phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay. Phạm Đức Huy, CH 2010 – 2012 5 Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý ĐHBK HN HIS (Hospital Information System): Hệ thống thông tin bệnh viện là hệ thông tin quản lý, điều hành công việc tại Bệnh viện; với các chức năng chính: quản lý bệnh nhân, bệnh án, dược, tài chính, trang thiết bị vật tư y tế, nhân sự.
Ngày nay, HIS là công cụ tối ưu hóa hệ thống trong quản lý điều hành; phục vụ nghiên cứu - đào tạo; thống kê, dự báo, dự phòng. tại Bệnh viện. EPR (Electronic Patient Record): Bệnh án điện tử là hệ thống phần mềm dùng thay thế cho Bệnh án giấy trong quản lý thông tin bệnh nhân, kết quả chẩn đoán, xét nghiệm, liệu trình điều trị. Với nhiều ưu điểm trong tìm kiếm, tra cứu, tổng hợp số liệu.
phục vụ điều trị và hỗ trợ nghiên cứu.1: Mối quan hệ giữa các hệ thống CNTT Y tế tại Bệnh viện hoạt động dựa trên chuẩn hình ảnh DICOM và chuẩn trao đổi dữ liệu HL7 RIS (Radiology Information System): Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh có nhiệm vụ quản lý bệnh nhân tại Khoa chẩn đoán hình ảnh. RIS được tổ chức gần giống HIS nhưng ở qui mô nhỏ hơn với các chức năng: quản lý danh sách bệnh nhân, phòng khám, số liệu kết quả chụp chiếu và chẩn đoán, thao tác với bệnh án, lưu trữ hình ảnh. Thông tin dữ liệu của RIS gồm dạng Text và dạng ảnh theo tiêu chuẩn DICOM (từ các thiết bị chiếu chụp: X-quang, cắt lớp, siêu âm, cộng hưởng từ…). Phạm Đức Huy, CH 2010 – 2012 6 Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý ĐHBK HN PACS (Picture Archiving and Communication System): Hệ thống thông tin lưu trữ và truyền hình ảnh, có nhiệm vụ: quản lý, lưu trữ và truyền hình ảnh từ những thiết bị như: siêu âm, X-quang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ hạt nhân.
với định dạng ảnh phổ biến nhất hiện nay là DICOM. PACS khác RIS là chỉ quan tâm đến quản lý lưu trữ và truyền hình ảnh mà không quan tâm đến các dữ liệu dạng Text như: số lần chụp chiếu, bệnh án, liệu trình điều trị. DICOM (Digital Imaging and Communication in Medicine): Tiêu chuẩn ảnh và truyền thông trong y tế, được phát triển từ năm 1988 dựa trên chuẩn ACR-NEMA; là qui chuẩn về định dạng và trao đổi ảnh y tế cùng các thông tin liên quan, từ đó tạo ra một phương thức chung nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất cũng như người sử dụng trong kết nối, lưu trữ, trao đổi, in ấn ảnh y tế. Hiểu một cách đơn giản, tập tin ảnh DICOM ngoài dữ liệu hình ảnh giống như các tiêu chuẩn JPG, BMP, GIF.
còn chứa thêm một số thông tin dạng Text như: tên bệnh nhân, loại thiết bị chụp chiếu tạo ra hình ảnh…. HL7 là chuẩn dùng cho trao đổi dữ liệu dạng Text; chia sẻ, kết hợp, truy xuất các thông tin y tế điện tử giữa các bệnh viện cũng như các cơ sở y tế. Ra đời từ năm 1987, trải qua nhiều phiên bản, cho đến nay HL7 ngày càng được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi.2: Quy trình tạo ra Profile tích hợp trong IHE Phạm Đức Huy, CH 2010 – 2012 7 Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý ĐHBK HN IHE (Intergrating Healthcare Enterprise): được phát triển từ năm 1998, là giải pháp tích hợp các hệ thống, tiêu chuẩn giữa các tổ chức y tế bằng cách đưa ra các quy trình thực hiện (Process) và cách thức giao dịch (Transaction). IHE sử dụng các tiêu chuẩn DICOM và HL7, đưa ra các “Profile” tích hợp (Intergration Profile), hướng dẫn các thông tin hoặc quy trình làm việc dựa trên các tiêu chuẩn có sẵn như DICOM hoặc HL7.
Tóm lại, IHE sẽ giúp loại bỏ sự không thống nhất, giảm chi phí, tạo ra khả năng tương thích ở mức độ cao nhất. Vị trí, vai trò của công nghệ thông tin đối với Y tế Bệnh viện [2] Thế giới luôn luôn phát triển không ngừng, luôn hướng tới những cái mới, ngày càng tạo ra nhiều tri thức mới để phục vụ cho cuộc sống con người. Tri thức Khoa học Công nghệ là một tri thức khoa học mà sản phẩm của nó là các thành tựu khoa học vô cùng quý giá. Việc tạo ra các tri thức Khoa học, công nghệ như là một bước đột phá của sự phát triển trong xã hội loài người, nó thể hiện những gì tinh túy nhất của tri thức con người.
Giờ đây khoa học công nghệ (KHCN) đã không thể thiếu trong cuộc sống con người, nó đã đi sâu vào mọi mặt mọi lĩnh vực của cuộc. sống trong xã hội. Nhờ có nó mà cuộc sống con người đã hoàn toàn thay đổi Từ việc con người phải dùng tay tính toán các phép tính đơn giản thì ngày nay có phát minh của máy vi tính mà việc tính toán hàng tỷ phép tính chỉ trong vài giây đã trở nên hết sức đơn giản phục vụ cho các nghiên cứu và dự đoán. Từ việc liên lạc với nhau bằng những bức thư viết tay thì giờ đây nhờ có hệ thống Internet toàn cầu thì con người có thể trực tiếp nói chuyện với nhau ở bất cứ nơi đâu trên trái đất.
Trong các doanh nghiệp, trường học, bệnh viện…thì việc quản lý đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều nhờ các phần mềm quản lý do con người tạo ra. Phạm Đức Huy, CH 2010 – 2012 8 Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý ĐHBK HN Cũng như trong y học thì việc khám và chữa bệnh nhờ các kĩ thuật hiện đại đã thực sự không thể thiếu, nhờ có nó mà một số căn bệnh trươc đây y học phải bó tay mà giờ đây đã trở nên hết sức dễ dàng… Ta có thể thấy vai trò không thể thiếu của các tri thức khoa học công nghệ trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội hiện đại. Với sự phát triển của các lĩnh vực đó thì nó càng thể hiện rõ được vai trò của nó. Tri thức khoa học, công nghệ luôn khẳng định được vai trò chủ đạo của nó với sự phát triển đi lên của các lĩnh vực trong xã hội hiện đại ngày nay.
Việc ứng dụng các thành tựu của khoa học vào mục tiêu phát triển là một điều tất yếu không thể thiếu vì những gì mà KHCN đem lại là hết sức to lớn, góp phần cho sự phát triển nhanh chóng và hiệu quả. Cụ thể ta có thể thấy được hiệu quả của việc áp dụng Công nghệ thông tin (CNTT) vào lĩnh vực Y tế như thế nào. Vai trò của CNTT với sự phát triển của ngành Y tế là hết sức to lớn và cần thiết. CNTT đã dần trở thành một yếu tố không thể thiếu trong sự nghiệp phát triển ngành Y tế của một quốc gia, nó nắm giữ một vai trò chủ đạo.
Công nghệ thông tin (CNTT) đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội. Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý mà còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các kỹ thuật cao trong KCB như chụp cắt lớp, mổ nội soi. thăm khám cho bệnh nhân qua hệ thống điện tử. Ta có thể thấy được những hiệu quả vô cùng to lớn mà Công nghệ thông tin đem lại trong việc khám chữa bệnh ở các Bệnh viện: “Hơn một năm trước, Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu, BV Bạch Mai, một trong những đơn vị Phạm Đức Huy, CH 2010 – 2012 9 Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý ĐHBK HN tiên phong của BV đã áp dụng thử nghiệm đưa thẻ KCB điện tử nhỏ gọn như thẻ ATM với rất nhiều tiện ích cho bệnh nhân.
Theo đó chỉ cần sở hữu một thẻ KCB điện tử mua thẻ tại Khoa KCB theo yêu cầu, bệnh nhân sẽ có mã số, mã vạch và mật khẩu để truy cập trang web của BV Bạch Mai bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu miễn là có. đường truyền Internet. Hiệu quả của việc ứng dụng CNTT đã thấy rõ, bởi thẻ KCB điện tử giống như một bệnh án điện tử, mỗi lần đi KCB, bệnh nhân không phải mang nhiều giấy tờ, hồ sơ bệnh án và chờ đợi làm các thủ tục xét nghiệm, thăm khám lại mà bác sĩ điều trị vẫn có thể xác định tương đối chính xác phác đồ điều trị bởi mọi thông tin như tiền sử bệnh, triệu chứng, kết quả xét nghiệm, đơn thuốc, các chất chống chỉ định cũng như tất cả thông tin liên quan qua các lần KCB, điều trị. đã được lưu giữ tại hệ thống máy tính của BV.
Việc này vừa tạo ra vô vàn thuận lợi cho người bệnh vừa góp phần nâng cao chất lượng KCB và đẩy nhanh việc giải quyết thủ tục hành chính của Khoa.