Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Những vấn đề chung về phát triển nguồn nhân lực 1. Một số khái niệm 1. Nhân lực Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực, trí lực và nhân cách [10].
Nhân lực được hiểu đồng nghĩa với lực lượng trong độ tuổi lao động hay lực lượng lao động trong một tổ chức cụ thể (Cơ quan, doanh nghiệp, bệnh viện, nhà trường…) 1. Nguồn nhân lực "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” [34].
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo báo cáo của Liên hợp quốc thì "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
10 Luan van Theo Tổ chức Lao động quốc tế: "nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động". Từ những tiếp cận nêu trên nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Như vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực là toàn bộ những con người có khả năng lao động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của một ngành, một lĩnh vực, một vùng, một lãnh thổ, một quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa rất lớn đối với các cơ quan, đơn vị. Nó là động lực, là chìa khóa mang lại lợi ích cho cả tổ chức và người lao động. Cụ thể đối với tổ chức: là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của tổ chức; đối với người lao động: đáp ứng nhu cầu phát triển của người lao động; đối với sự phát triển của ngành, địa phương, quốc gia: là yếu tố quyết định sự phát triển của một ngành, địa phương hay Quốc gia.
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực. Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Có quan điểm cho 11 Luan van rằng: "Phát triển nguồn nhân lực làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội" [31]. Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội.
Từ những luận điểm trên, phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực là dùng một hệ thống chủ trương, chính sách, giải pháp và hệ thống công cụ, tác động vào nguồn nhân lực để có được nguồn nhân lực có đầy đủ sức khoẻ, có văn hóa, có trình độ chuyên môn, nắm bắt được những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới, có đủ nhân cách và đạo đức để thực hiện được yêu cầu công nghiệp hóa của đất nước. Nguồn nhân lực y tế Năm 2006, tổ chức thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” [5]. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế.
Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y.); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp). 12 Luan van Ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số58/2010/QH12 bao gồm: + Cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y). + Các cán bộ, nhân viên y tế đang làm trong hệ thống y tế tư nhân. + Công chức, viên chức đang làm việc tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược ở cả khu vực công và tư.
Vậy nguồn nhân lực y tế bao gồm tất cả các công chức, viên chức, người lao động được đào tạo từ khối ngành sức khỏe, hoạt động khác nhau trong lĩnh vực y tế như: công tác khám, chữa bệnh, đào tạo, quản lý. Nhân lực ngành y tế gồm các ngạch bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, dược sĩ, kỹ thuật viên, công nhân hỗ trợ cho công tác khám chữa bệnh. Phát triển nguồn nhân lực y tế Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội, là một trong những điều kiện cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ tổ quốc. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là một nhiệm vụ chính trị quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Những năm qua, cùng với nỗ lực thực hiện các giải pháp về tài chính và cơ sở vật chất, trang thiết bị, ngành y tế đã đặc biệt quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực y tế, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Số lượng, trình độ, cơ cấu cán bộ chuyên môn của các đơn vị y tế phải đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả, chất lượng làm việc của cán bộ, từ đó đảm bảo tối đa quyền lợi người bệnh. Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã có Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT/BNV ngày 05/06/2007 hướng dẫn mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước [3]. 13 Luan van Vậy phát triển nguồn nhân lực y tế là toàn bộ những hoạt động tác động vào nguồn nhân lực y tế, để họ có đủ năng lực phục vụ cho nhu cầu về khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Đặc điểm nguồn nhân lực y tế 1. Thời gian đào tạo “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” [2]. Do đó ngành y là một ngành có đặc thù riêng về cơ chế đào tạo so với các ngành khác. Nó không giống như những ngành nghề khác, công việc của ngành y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng và sinh mạng của con người.
Vì vậy, đòi hỏi người cán bộ y tế phải tinh thông nghề nghiệp, phải có lương tâm nghề nghiệp và đặc biệt là cán bộ y tế phải vừa "hồng" vừa "chuyên". Phải được đào tạo nghiêm túc với thời gian dài hơn các ngành khác. Sinh viên học y khoa sau 6 năm học đại học (ĐH) và tốt nghiệp ra trường sẽ được gọi là bác sĩ nhưng vẫn chưa được hành nghề và họ chỉ được hành nghề sau khi thực hành đủ 18 tháng tại một số cơ sở y tế để được cấp chứng chỉ hành nghề. Khi muốn học nâng cao trình độ chuyên môn thì họ có thể lựa chọn học lên trình độ cao hơn theo 2 hướng là chuyên sâu về y học lâm sàng (bác sĩ nội trú, chuyên khoa 1 và chuyên khoa 2 hoặc là nghiên cứu (thạc sĩ, tiến sĩ).
Ngoài ra, còn phải luôn trau dồi kiến thức trong suốt cuộc đời thông qua các chương trình đào tạo và phát triển nghề nghiệp liên tục. Kỹ năng nhân lực Nhân lực y tế thực hiện công tác khám chữa bệnh liên quan trực tiếp đến sức khỏe của con người nên đòi hỏi không chỉ cao về trình độ chuyên môn y khoa mà đòi hỏi phải thành thạo các kiến thức, kỹ năng sử dụng các máy móc trang thiết bị hỗ trợ. Ngành y là ngành khoa học đa dạng, phong phú, đòi hỏi sự phát triển cao về kỹ thuật, công nghệ; là ngành có rất nhiều 14 Luan van chuyên ngành, mỗi chuyên ngành vừa có tính độc lập vừa có tính gắn kết với các chuyên ngành khác. Chính vì vậy, đội ngũ y bác sĩ phải được đào tạo liên tục và quá trình đào tạo là một quá trình liên tục được thực hiện một cách bài bản, công phu, tốn kém và mất nhiều thời gian, công sức.
Đào tạo nhân viên y tế luôn phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành.