Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ Y TẾ CƠ SỞ 1. Cơ sở lý luâ ̣n về chấ t lươ ̣ng cán bô ̣ y tế tuyế n cơ sở 1. Một số khái niê ̣m cơ bản Cán bộ: Là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.[2,tr14] Công chức: Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Hệ thống y tế cơ sở: Trên phạm vi toàn cầu, theo WHO (1991), Y tế tuyến cơ sở (gọi tắt là y tế cơ sở) là một hệ thống tập hợp các hoạt động có mối liên hệ mật thiết với nhau do ngành Y tế cùng các ban ngành chức năng thực hiện góp phần vào việc chăm sóc sức khỏe tại gia đình, trường học, nơi làm việc và tại cộng đồng.Y tế cơ sở gắn liền với việc đảm nhận trọng trách cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm đạt được mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người” theo tinh thần của tuyên ngôn Alma Ata đã được nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam cam kết thực hiện từ năm 1978.[12,tr24] c 7 Y tế cơ sở bao gồm các thành tố như: cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực y tế.
Tùy theo bối cảnh kinh tế, chính trị của từng quốc gia mà y tế cơ sở có thể thuộc Chính phủ hoặc phi Chính phủ. Y tế cơ sở chỉ có thể phát huy được hiệu quả trong cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu khi nguồn nhân lực Y tế được đào tạo thích đáng để có thể triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực từ nâng cao sức khỏe, dự phòng đến điều trị và phục hồi chức năng. Ở nước ta, hệ thống y tế được chia làm 3 tuyến: trung ương, tỉnh/thành phố và cơ sở. Y tế cơ sở được xác định bao gồm: y tế tuyến huyện (quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) và y tế xã (phường, thị trấn).[4,tr50] * Cán bộ y tế cơ sở: Là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong ngành y tế ở tuyến huyện và tuyến xã.
* Chất lượng đội ngũ cán bộ y tế cơ sở: Là khái niệm chung bao hàm nhiều yếu tố cấu thành như: tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, trình độ quản lý; năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức nghề nghiệp… của đội ngũ cán bộ y tế cơ sở. Vai trò y tế tuyế n cơ sở Y tế tuyến huyện là nơi cứu chữa cơ bản đầu tiên phục vụ nhân dân, đồng thời là tuyến hỗ trợ trực tiếp cho y tế tuyến xã. Củng cố y tế tuyến huyện không những nâng cao chất lượng cứu chữa cơ bản tại chỗ mà còn hỗ trợ cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của tuyến xã, đồng thời có tác dụng giảm bớt gánh nặng cho y tế tuyến tỉnh và tuyến Trung ương để các tuyến này tập trung vào nghiên cứu khoa học và cứu chữa có chất lượng. Y tế tuyến xã là đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp xúc với nhân dân nằm trong hệ thống y tế Nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn.
Củng cố y tế tuyến xã vừa có ý nghĩa đưa các dịch vụ y tế có chất lượng đến với người dân vừa có tác dụng hỗ trợ người nghèo tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế, mặt khác còn làm tốt công tác quản lý và chỉ đạo hoạt động của y tế thôn bản. c 8 Y tế thôn bản là chân rết của y tế tuyến xã, ở ngay trong dân, có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, phát hiện sớm bệnh dịch, sơ cứu và xử trí cấp cứu ban đầu, chăm sóc người mắc bệnh nhẹ và mãn tính… Vì vậy, y tế thôn bản có ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết trong việc chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng, nhất là khu vực nông thôn, miền núi. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới này để y tế thôn, bản thực sự là cánh tay vươn dài của y tế cơ sở. Do vậy, y tế cơ sở có vị trí chiến lược quan trọng, bởi vì y tế cơ sở là đơn vị y tế gần dân nhất, phát hiện ra những vấn đề của chăm sóc sức khỏe sớm nhất, giải quyết 80% khối lượng phục vụ y tế tại chỗ, là nơi thể hiện sự công bằng trong CSSK rõ nhất, nơi trực tiếp thực hiện và kiểm nghiệm các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về y tế, là bộ phận quan trọng nhất của ngành y tế tham gia ổn định chính trị - xã hội.
Nước ta là một nước nông nghiệp, hơn 80% dân số là nông dân và sống chủ yếu ở nông thôn. Vì vậy, đặc trưng của y tế cơ sở ở nước ta là y tế huyện, xã, thông, bản và đối tượng phục vụ chủ yếu là nông dân, sống ở nông thôn và gắn với nông nghiệp. Nước ta có tỷ lệ người nghèo vẫn còn cao, người nghèo sống rải rác ở khắp nơi nhưng tập trung chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng căn cứ cách mạng. Hiện nay người không nghèo thường có xu hướng đến khám bệnh và chữa bệnh ở tuyến tỉnh, tuyến Trung ương nhiều hơn, còn người nghèo có xu hướng đến khám chữa bệnh ở trạm y tế xã và đặc biệt là y tế thôn, bản nhiều hơn, hãn hữu mới lên đến tuyến huyện.
Do đó đầu tư cho y tế cơ sở, trong đó có y tế thôn, bản chính là đầu tư cho vùng nghèo, người nghèo, góp phần giải bài toán chữa bệnh cho người nghèo và thực hiện công bằng trong CSSK. Đă ̣c điểm cán bộ y tế tuyế n cơ sở Thời gian đào tạo cán bộ y tế dài hơn các ngành khác Thời gian đào tạo nhân viên y tế (NVYT) thường dài hơn nhiều so với các ngành khác. Thời gian đào tạo bác sỹ là 6 năm, dược sỹ là 5 năm, đặc biệt c 9 bác sỹ nội trú là 9 năm trong khi đó các ngành khác chỉ từ 4 đến 5 năm. Đảng và Nhà nước ta cũng đã xác định: "nghề y là một nghề đặc biệt, vì vậy cần được đào tạo và sử dụng một cách đặc biệt" (Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 23/2/2005).
Tính chất đặc biệt trong đào tạo nhân viên y tế còn biểu hiện qua quá trình đào tạo lý thuyết phải gắn liền với kỹ năng thực hành trên người bệnh. Do đó, trong quá trình học thì học sinh, sinh viên ngành y phải học cả sáng, chiều và đi trực tối, trong khi các ngành khác chỉ học sáng hoặc chiều. Có như thế nhân viên y tế sau khi ra trường mới nhanh chóng phát huy được năng lực trong công tác khám chữa bệnh cho nhân dân. Đào tạo kỹ năng liên tục và kéo dài, có nhiều nguy cơ Người CBYT ngoài việc áp dụng các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đã được đào tạo vào thực hiện nhiệm vụ, còn phải được đào tạo kỹ năng ứng xử với người bệnh tại bệnh viện, sử dụng các máy móc, thiết bị y tế ngày càng hiện đại.
Cùng với sự phát triển và không ngừng đổi mới, hiện đại hơn nên người CBYT cũng cần phải liên tục cập nhật kiến thức để áp dụng các tiến bộ đó vào chăm sóc và điều trị sức khỏe cho con người. Trong thời đại khoa học phát triển như vũ bão hiện nay đòi hỏi người CBYT phải nâng cao mình thông qua việc rèn luyện thường xuyên qua thực tế và thực nghiệm. Ngay từ khi còn đang học, sinh viên các trường y đã phải học tập trong môi trường bệnh viện, phải đi trực đêm. Trong môi trường học tập đó các CBYT tương lai đã phải tiếp xúc với các nguy cơ bệnh tật mà họ cũng có thể mắc phải.
Đó cũng là một trong nguyên nhân mà Đảng và Nhà nước đã quyết định ngành y, dược là một nghề độc hại. Môi trường làm việc áp lực cao, độc hại, lao động căng thẳng Theo bộ luật Lao động của Việt Nam, người lao động chỉ phải làm 8 giờ hành chính, ngoài thời gian đó người lao động có thể làm thêm và nhận được đồng lương cao gấp rưỡi hoặc gấp đôi trong giờ hành chính nhưng cũng c 10 không được làm quá 12 giờ một ngày. Còn CBYT thì sao? Ngoài giờ làm việc hành chính, những người đến ca trực phải trực đêm (16 giờ), trực lễ, ngay cả dịp tết Nguyên đán khi tất cả người lao động được nghỉ về sum họp với gia đình thì CBYT vẫn phải làm mệt mài. Họ phải đảm bảo 24/24 giờ trong ngày đều có người trực để chăm sóc, cấp cứu kịp thời cho bệnh nhân.
Ngay cả khi gia đình họ có người bị ốm CBYT cũng vẫn phải đi chăm sóc người khác chứ không phải là người thân của mình. CBYT thường xuyên làm việc trong môi trường độc hại như bệnh phẩm, tia X, các tác nhân lây nhiễm bệnh dịch… Khi có vấn đề sức khỏe xảy ra họ lại đương đầu với bệnh dịch mặc dù biết mình có nhiều nguy cơ bị mắc bệnh. Cường độ lao động, tính khẩn trương và ý thức trách nhiệm trước mạng sống của người bệnh, dư luận xã hội, các đòi hỏi của con người và đặc biệt là thu nhập thấp đã ảnh hưởng tới tâm lý và sức khỏe của người CBYT.