phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, ngoài ra còn có danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục sơ đồ và các phụ lục. Trong đó phần nội dung gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong tổ chức Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: : Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực y tế tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN TRONG TỔ CHỨC 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nhân lực trong tổ chức 1. Khái niệm về nhân lực Nhân lực chính là đƣợc coi sức lực nằm trong mỗi con ngƣời, để con ngƣời có thể hoạt động. Nó thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc, nó bao gồm sức khỏe, trình độ, tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng say mê… Thực tế đã chứng minh vai trò của con ngƣời trong quá trình lao động sản xuất là vô cùng quan trọng, nhân lực là yếu tố trung tâm trong tất cả các yếu tố khác của sản xuất.
Khi không có nguồn nhân lực, mọi nhân tố sẽ không đƣợc vận hành, sử dụng vào quá trình sản xuất. Nguồn nhân lực đƣợc xem xét và đánh giá dựa vào số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu: Về số lƣợng: thể hiện bởi quy mô nguồn nhân lực, tốc độ tăng nguồn nhân lực. Về chất lƣợng: thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, đƣợc biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc. Về cơ cấu nguồn nhân lực thông qua các tỷ lệ của từng bộ phận nguồn nhân lực đƣợc phân chia các tiêu thức chất lƣợng khác nhau trong tổng nguồn nhân lực nhƣ: cơ cấu nguồn nhân lực dựa vào độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn… Từ những quan điểm trên, nguồn nhân lực đƣợc hiểu hai nghĩa: Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động.
Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực là tổng thể của các yếu tố thể lực, trí lực, 6 kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động của nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động. Trong phạm vi luận văn này thì nguồn nhân lực trong tổ chức đƣợc hiểu: Tổng số cán bộ công chức, viên chức và ngƣời lao động hợp đồng có trong danh sách của một tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, làm việc bằng thể lực, trí lực của họ, hoạt động này phải theo chức năng nhiệm vụ của tổ chức phân công. Hay có thể gọi là lực lƣợng lao động của tổ chức. Khái niệm về nhân lực trong ngành y tế Giáo trình Kinh tế quốc tế “Nhân lực được hiểu là tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức” [15; tr.2] Theo WHO [21; tr.3] đã đƣa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”.
Theo đó nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nhƣ vậy, theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO thì Việt Nam có các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là “nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/ dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tƣ nhân, các cộng tác viên y tế, bà đỡ/ mụ vƣờn). Trong đó, đội ngũ y bác sĩ là các nhân viên y tế làm công tác điều trị, khám chữa bệnh, bao gồm: bác sĩ và điều dƣỡng viên. Trong đó, đội ngũ y bác sĩ là các nhân viên y tế làm công tác điều trị, khám chữa bệnh, bao gồm: bác sĩ, điều dƣỡng viên.
Trong đó, theo từ điển Wikipedia,“ Bác sĩ y khoa còn gọi là Thầy thuốc là người duy trì, phục hồi sức khỏe con người bằng cách 7 nghiên cứu, chẩn đoán và chữa trị bệnh tật và thương tật dựa trên kiến thức về cơ thể con người.” Thầy thuốc: bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa, cũng nhƣ bác sĩ Tây y hoặc thầy thuốc Đông y (chữa bệnh thuốc Nam, thuốc Bắc); Điều dƣỡng viên là ngƣời phụ trách công tác điều dƣỡng, chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân. Theo một định nghĩa khác thì Điều dƣỡng viên (bao gồm cả nam và nữ) là những ngƣời có nền tảng khoa học cơ bản về điều dƣỡng, đáp ứng các tiêu chuẩn đƣợc kê toa tùy theo sự giáo dục và sự hoàn thiện lâm sàng. Chất lượng nhân lực Quan điểm chất lƣợng nguồn nhân lực (NNL) đƣợc hiểu nhƣ sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [9; tr. Hiện nay điều kiện kinh tế thị trƣờng cạnh tranh rất cao, hội nhập sâu rộng thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc coi là chỉ tiêu quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế, đời sống của con ngƣời trong một xã hội nhất định.
Để đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực, thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đo bằng 2 tiêu chí: “là năng lực hoạt động của NNL và phẩm chất đạo đức của NNL đó”. Năng lực hoạt động có đƣợc thông qua quá trình đào tạo, huấn luyện và trải qua thời gian làm việc nhất định ,đƣợc đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và các kỹ năng giải quyết công việc. Chất lƣợng nhân lực đƣợc tạo ra từ một sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều yếu tố và nhiều giá trị cùng tham gia tạo nên. Trong đó, gồm các yếu tố cơ bản: thể lực, trí lực và tâm lực.
Thể lực là tình trạng sức khoẻ của con ngƣời, biểu hiện ở sự phát triển bình thƣờng, có khả năng lao động. Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiễn của con ngƣời, có thể đáp ứng đƣợc những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con ngƣời có khả năng học tập và lao động lâu dài. 8 Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tƣ duy mang tính sáng tạo thích ứng với xã hội của con ngƣời. Nói đến trí lực là nói đến yếu tố tinh thần, trình độ văn hoá và học vấn của con ngƣời, biểu hiện ở khả năng vận dụng những điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt hiệu quả cao, đồng thời là khả năng định hƣớng giá trị hoạt động của bản thân để đạt đƣợc mục tiêu.
Trí lực là yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con ngƣời, là yếu tố ngày càng đóng vai trò quan trọng và quyết định trong chất lƣợng nguồn nhân lực nói riêng và sự phát triển của nguồn lực con ngƣời nói chung. Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất tốt đẹp và sự hoàn thiện nhân cách của con ngƣời, đƣợc biểu hiện trong thực tiễn lao động sản xuất, sáng tạo cá nhân. Những giá trị đó gắn liền với năng lực tƣ duy và hành động cụ thể của con ngƣời, tạo nên chất lƣợng của nguồn nhân lực. Phẩm chất đạo đức là khả năng giám nghĩ, giám làm, giám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thƣớc đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của NNL Để nâng cao chất lƣợng nhân lực thì phải nâng cao tất cả các mặt: thể lực, trí lực và tâm lực.
Nhƣng mỗi yếu tố trên lại liên quan đến những lĩnh vực rất rộng lớn nhƣ: - Thể lực là tình trạng sức khỏe gắn với dinh dƣỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe. - Trí lực gắn với lĩnh vực giáo dục đào tạo. - Tâm lực chịu ảnh hƣởng của truyền thống văn hóa dân tộc, nền tảng văn hóa và thể chế chính trị. Do vậy, để đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực thƣờng xem xét trên ba mặt: sức khỏe, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật, năng lực phẩm chất của ngƣời lao động.
Nhƣ vậy chất lƣợng nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: Chất lƣợng nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lƣợng lao động đƣợc biểu hiện thông qua ba mặt: 9 Thể lực, trí lực, tâm lực. Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành thống nhất nên chất lƣợng nhân lực. Cả 3 yếu tố: thể lực, trí lực, tâm lực đều là yếu tố quan trọng nhƣ nhau trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng nhân lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đối với cá nhân ngƣời lao động, nâng cao chất lƣợng NL là gia tăng giá trị con ngƣời, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng nhƣ kĩ năng nghề nghiệp, làm cho con ngƣời trở thành ngƣời lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội.
Đối với tổ chức,đơn vị, doanh nghiệp nâng cao chất lƣợng NL chỉ việc thực hiện một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lƣợng NL tăng lên so với chất lƣợng NL hiện có. Đó là khi lực lƣợng này có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ đặt ra trong những giai đoạn phát triển của một quốc gia, một tổ chức, doanh nghiệp. Nó bao gồm : Thể lực: là yêu cầu đầu tiên đối với ngƣời lao động, đây là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phƣơng tiện thiết yếu để chuyền tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất.