ĐẶT VẤN ĐỀ Vai trò và hiệu quả phòng bệnh, chữa bệnh của Y học cổ truyền (YHCT) ngày càng đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới công nhận và xác nhận nhƣ một nhân tố quan trọng đảm bảo sự thành công của chiến lƣợc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [62], [63]. Việt Nam là một trong những nƣớc có truyền thống sử dụng y học cổ truyền lâu đời. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, y học cổ truyền Việt Nam đã trở thành một nền y học chính thống của dân tộc. Đảng và Nhà nƣớc đã có những chủ trƣơng chính sách quan trọng về phát triển y học cổ truyền, từ đó hệ thống khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền từ trung ƣơng đến địa phƣơng từng bƣớc đƣợc củng cố và phát triển.
Ngày 4/7/2008, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng đã ban hành Chỉ thị số 24- CT/TW về “Phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y trong tình hình mới”[1]. Ngày 30/11/2010 Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành quyết định số 2166/QĐ-TTg về việc “Ban hành kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển Y dƣợc cổ truyền Việt Nam đến năm 2020”[39]. Các mục tiêu mà Chính phủ đề ra chỉ có thể thực hiện đƣợc khi đội ngũ các thầy thuốc YHCT trong các cơ sở y tế phải đóng vai trò nòng cốt, đủ về số lƣợng, có kiến thức chuyên ngành sâu sắc, có tay nghề giỏi cùng với các thiết bị y tế hiện đại. Mặc dù đã có nhiều chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc định hƣớng cho sự phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam, Tuy nhiên, trong quá trình phát triển còn nhiều bất cập, trong đó có nguồn nhân lực y học cổ truyền.
Theo kết quả nghiên cứu của Cục quản lý Y dƣợc cổ truyền - Bộ Y tế, nguồn nhân lực trong hệ thống y học cổ truyền hiện nay đang thiếu về số lƣợng, chất lƣợng chuyên môn còn hạn chế [8]. Tỷ lệ tiến sỹ, bác sỹ CKII: 4,5 %; Tỷ lệ thạc sỹ, bác sỹ CKI: 10,3 %; Tỷ lệ bác sỹ YHCT: 14,8 %, Tỷ lệ y sỹ YHCT và điều dƣỡng YHCT: 53,9 % ; Tỷ lệ lƣơng y: 0,4 %. Số lƣợng các cán bộ chuyên sâu về YHCT còn ít, bác sỹ chuyên khoa sau đại học còn chiếm tỷ lệ thấp, tổng số cán bộ YHCT chỉ chiếm 6,2% trên tổng số cán bộ y tế chung [8]. 2 Tại Thái Nguyên, Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quan tâm chỉ đạo tới việc phát triển y học cổ truyền.
Ngày 17 tháng 3 năm 2009 Tỉnh Ủy Thái Nguyên đã ban hành Kế hoạch số 62/KH-TU về thực hiện số Chỉ thị 24 - CT/TW của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng [30]. Ngày 18 tháng 01 năm 2012 Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành quyết định 67/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch hành động phát triển Y, Dƣợc cổ truyền tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 [46]. Để phát triển nền y học cổ truyền của tỉnh, trƣớc hết cần phải có nguồn nhân lực đáp ứng đƣợc nhiệm vụ đặt ra. Tuy vậy, hệ thống khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền và nguồn nhân lực tại Thái Nguyên cũng chƣa đƣợc quan tâm đầu tƣ để phát triển và trên thực tế tại Thái Nguyên cho đến nay chƣa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về thực trạng, nhu cầu đào tạo cũng nhƣ giải pháp phát triển nguồn nhân lực y học cổ truyền.
Câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là: Thực trạng nguồn nhân lực y học cổ truyền của tỉnh Thái Nguyên năm 2012 nhƣ thế nào? đã có những yếu tố nào ảnh hƣởng đến phát triển nguồn nhân lực? và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực y học cổ truyền của tỉnh trong thời gian tới ra sao? và trên cơ sở đó cần đề xuất những giải pháp nào để phát triển nguồn nhân lực y học cổ truyền tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới. Xuất phát từ thực tế trên, để có cơ sở khoa học đề xuất giải pháp phù hợp phát triển nguồn nhân lực y học cổ truyền của tỉnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực y học cổ truyền tỉnh Thái Nguyên ”, nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực y học cổ truyền tỉnh Thái Nguyên năm 2012. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y học cổ truyền và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực y học cổ truyền của tỉnh Thái Nguyên 3.
Đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực y học cổ truyền tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015-2018. Khái niệm về nguồn nhân lực và vai trò của Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn lực về con ngƣời, biểu hiện khả năng lao động của xã hội và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh. Nguồn nhân lực với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cƣ có cơ thể phát triển bình thƣờng (không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh).
Nguồn nhân lực là một yếu tố của sự phát triển xã hội là khả năng lao động của xã hội đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Nguồn nhân lực là tổng hợp những cá nhân những con ngƣời có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này, NNL bao gồm những ngƣời từ giới hạn dƣới độ tuổi lao động trở lên ở nƣớc ta tròn 15 tuổi [43]. Nguồn nhân lực đƣợc xem trên góc độ số lƣợng, chất lƣợng: - Số lƣợng nhân lực đƣợc hiểu thông qua các chỉ tiêu qui mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. - Chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên tất cả các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất.
+ Ở mỗi phạm vi và qui mô, khái niệm NNL đƣợc định nghĩa một cách khác nhau. Theo Trần Kim Dung định nghĩa “ NNL ở một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định “[43] 4 Trong xã hội con ngƣời bất cứ ở tổ chức nào cũng đƣợc tạo thành bởi các thành viên là con ngƣời hay NNL của nó mà NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó [21]. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành nhân lực mà trong mỗi xã hội có các nhóm nhân lực khác nhau, trong đó có nhân lực y tế. Nhân lực y tế Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những ngƣời tham gia vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”.
Nhân lực y tế bao gồm: Ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, bao gồm ngƣời công tác trong ngành y tế và các ngành khác (quân đội, trƣờng học, các doanh nghiệp …) Do tính chất liên ngành của ngành y tế nên nguồn lực y tế còn bao gồm cán bộ nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau nhƣ: khoa học cơ bản (hóa học, toán học, lý học….), kinh tế xã hội học, thống kê, tin học, các ngành kỹ thuật nhƣ xây dựng, cơ khí, điện và còn nhiều ngành khác nữa đang tham gia vào phục vụ công tác y tế ở tất cả các tuyến từ trung ƣơng đến cơ sở [6], [37]. Trong nguồn nhân lực y tế cần chú ý cả hai khu vực: Y tế công lập và Y tế tƣ nhân. Cần phải nhận thức rằng: phát triển nguồn nhân lực y tế vừa nằm trong tổng thể phát triển hệ thống y tế vừa nằm trong chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực con ngƣời của đất nƣớc. Phát triển nguồn nhân lực y tế phải đi trƣớc nhu cầu xã hội dựa trên những dự báo về nhu cầu cũng nhƣ khả năng tài chính và kỹ thuật cung ứng cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng [37], [47].
Nhân lực Y học cổ truyền Nhân lực y học cổ truyền là một bộ phận trong đội ngũ nhân lực y tế. Ở Việt Nam nhân lực YHCT đƣợc đa dạng về loại hình, bao gồm: Tiến sỹ YHCT; thạc sỹ; Bác sỹ chuyên khoa YHCT; chuyên khoa cấp 1; chuyên khoa cấp 2; y sỹ y học cổ truyền; Lƣơng y; Lƣơng dƣợc… 5 ỞViệt Nam, nhân lực y học cổ truyền đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các loại nhân lực y học cổ truyền nói trên làm việc tại một số lĩnh vực nhƣ: bệnh viện, quầy thuốc, quản lý, điều trị ngoại trú và một số công việc liên quan đến sinh hóa và xét nghiệm, công nghiệp dƣợc, nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Nhân lực y học cổ truyền Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trong khu vực có nét tƣơng đồng, đƣợc cấu thành từ hai nguồn chính: - Từ hệ thống các trƣờng đào tạo: Từ tri thức hàn lâm, bao gồm các phƣơng pháp đào tạo, có lý luận, có sách ghi chép một cách hệ thống.
- Từ cộng đồng: Từ tri thức bản địa, bao gồm tri thức sử dụng cây thuốc, các phƣơng pháp chữa bệnh đƣợc truyền dạy trong gia đình, dòng tộc hoặc từ cộng đồng bằng truyền miệng [9]. Nền y học cổ truyền ở việt Nam đã có từ lâu, Tuy nhiên, hệ thống YHCT đƣợc sử dụng với một tỷ lệ thấp hơn so với hệ thống y học hiện đại. Thực tế hiện nay, đa số các bệnh viện tuyến tỉnh chỉ có khoa y học cổ truyền, các trung tâm y tế tuyến huyện chỉ có một vài giƣờng bệnh điều trị bằng phƣơng pháp y học cổ truyền. Ở tuyến trung ƣơng có bệnh viện y học cổ truyền, có Viện nghiên cứu.
Ở tuyến y tế các tỉnh có bệnh viện chuyên khoa y học cổ truyền. … Ở mỗi vùng miền, sự phát triển y học cổ truyền ở các mức độ khác nhau, việc sử dụng nhóm nhân lực này vào công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cũng khác nhau. Nhìn chung, nó còn phụ thuộc vào tính phổ biến nguồn dƣợc liệu của mỗi vùng trong cả nƣớc và cũng nhƣ việc đào tạo nhân lực y học cổ truyền của quốc gia. Ở nƣớc ta, các cây thuốc thảo dƣợc thƣờng tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, cho nên nhân lực YHCT tập trung chủ yếu ở khu vực miền Bắc và đội ngũ Lƣơng Y, Lƣơng dƣợc tham gia chăm sóc sức khỏe nhân dân tản mạn ở các vùng miền núi [49].