CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Những vấn đề chung về chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm chính sách và chính sách công Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sông xã hội hiện nay.
Tuy nhiên, đây cũng là thuật ngữ được các học giả nghiên cứu hiện nay đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau. Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể. Theo James Anderson (1984) thì chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm. Quan niệm khác lại cho rằng chính sách là những hành động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tượng quản lý theo hướng đồng thuận hay phản đối.
Tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ chính sách như sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [5]. Từ điển bách khoa Việt Nam đưa ra khái niệm “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa.
” [21] Chính sách công, một ngành khoa học có tính ứng dụng cao đã và đang được các nước trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau. Theo Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội 12 năm 2017 trong bài viết “Bàn về khái niệm chính 7 Luan van sách công” tác giả Hồ Việt Hạnh đã trích dẫn một số khái niệm về chính sách công trên thế giới tiêu biểu như sau: “Thomas Dye đưa ra một định nghĩa khá súc tích về chính sách công : Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm ; B. Guy Peter định nghĩa: … chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân; Clarke E. Cochran lại cho rằng: Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/ chính quyền và những ý định quyết định hành động này hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai dành được cái gì đó” [12].
Ở Việt Nam, thuật ngữ chính sách công đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những quan điểm và cách hiểu khác nhau như: Theo Nguyễn Hữu Hải thì “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [11]. Hồ Việt Hạnh cho rằng “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [12]. Viện Chính trị học quan niệm “… chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [22]. Theo Lê Như Thanh và Lê Văn Hòa thì “ Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [17].
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Chính sách công là chính sách của nhà nước, là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau, với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân. Khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực, trí lực và nhân cách” [4]. Nhân lực được hiểu đồng nghĩa với lực lượng trong độ tuổi lao động hay lực lượng lao động trong một tổ chức cụ thể (Cơ quan, doanh nghiệp, bệnh viện, nhà trường…). "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”[19]. Như vậy, nguồn nhân lực có thể hiểu là toàn bộ những con người có khả năng lao động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của một ngành, một lĩnh vực, một vùng, một lãnh thổ, một quốc gia. Khái niệm phát triển nhân lực và chính sách phát triển nhân lực Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ những luận điểm trên, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình hoạch định và thực hiện một hệ thống chủ trương, chính sách, giải pháp và các công cụ, nguồn lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để có được nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ nhân lực nói riêng có đầy đủ sức khoẻ, có văn hóa, có trình độ chuyên môn, nắm bắt được những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới, có đủ nhân cách và đạo đức để thực hiện được yêu cầu CNH, HĐH của đất nước. 9 Luan van Trên cơ sở khái niệm về chính sách và chính sách công, có thể hiểu rằng: Chính sách phát triển NL là công cụ để quản lý phát triển đội ngũ nhân lực, là quan điểm, quyết sách, quyết định của Nhà nước bao gồm các mục tiêu, lộ trình và giải pháp cụ thể để xây dựng đội ngũ nhân lực hợp lý về cơ cấu, về số lượng, chất lượng, đảm bảo về năng lực, thể lực, trí lực của các cơ quan, tổ chức, đơn vị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ CNH, HĐH đất nước. Đặc điểm, vai trò nhân lực y tế 1.
Đặc điểm ngành y tế và đội ngũ nhân lực y tế Ngành y tế là ngành chăm sóc sức khỏe cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật, thương tích và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở người. Ngành y tế có đặc điểm: Có chính sách chủ động phòng ngừa bệnh tật; hệ thống y tế rộng khắp từ trung ương đến địa phương; xã hội hóa các hoạt động y tế, chủ yếu thông qua việc thu một phần viện phí, bảo hiểm y tế, cho phép hành nghề tư nhân; cũng cố mạng lưới y tế cơ sở, đồng thời hiện đại hóa các hoạt động y tế nhằm đạt trình độ kỹ thuật ngang với những nước trong khu vực; đảm bảo tính công bằng trong khám chữa bệnh đối với người nghèo và nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Trong những năm qua, ngành Y tế Việt Nam đã có bước phát triển toàn diện, mạnh mẽ. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.
Mạng lưới y tế dự phòng, cơ sở khám chữa bệnh, sản xuất và cung ứng dược phẩm, bảo hiểm y tế, năng lực chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ đều có bước phát triển. Hiện nay, cả nước có hơn 700 trung tâm y tế huyện, quận, thị xã; hơn 11.100 trạm y tế xã, phường, thị trấn, trong đó có hơn 60% số trạm y tế đã đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2010- 2020; 100% số xã có trạm y tế hoặc có phòng khám đa khoa khu vực liên xã; 87,5% số trạm y tế xã có bác sĩ làm việc (bao gồm cả bác sĩ làm việc lâu dài và bác sĩ tuyến trên luân phiên về làm việc hai, ba ngày 10 Luan van trong tuần); 96% số trạm y tế xã có nữ hộ sinh/y sĩ sản nhi và hơn 95% số thôn bản có nhân viên y tế thôn, bản hoặc cô đỡ thôn, bản… Mạng lưới khám, chữa bệnh từ Trung ương đến các xã với hơn 1.000 giường bệnh, hằng năm khám và điều trị ngoại trú cho 120.000 lượt người bệnh, điều trị cho hơn 10 triệu lượt người, thực hiện hàng triệu thủ thuật, khoảng 2 triệu ca phẫu thuật phức tạp hàng năm. Ấn tượng nhất là Việt Nam đã thành công trong cuộc chống đại dịch Covid- 19 và được thế giới đánh giá cao. Quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam là chủ động, không chủ quan, “chống dịch như chống giặc”, huy động sức mạnh và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng xã hội, lấy phòng dịch làm ưu tiên, ngăn chặn nguy cơ lây lan dịch từ bên ngoài, khoanh vùng dập dịch triệt để từ bên trong, điều trị hiệu quả, chấp nhận hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của người dân.
Chúc mừng các kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19, TS. Kidong Park, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam bày tỏ ấn tượng trước các biện pháp rất nhanh, hiệu quả đã được triển khai thời gian qua.