Chương 1 sẽ trình bày tổng quan lý thuyết về sự hài lòng đối với công việc, các lý thuyết về sự hài lòng, lược qua các nghiên cứu trước đây về sự hài lòng trong công việc và sự hài lòng của riêng đối tượng bác sĩ, những đặc thù riêng của ngành y. Qua đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của các bác sĩ đối với công việc tại bệnh viện quận Thủ Đức. Khái niệm và các học thuyết về sự hài lòng đối với công việc 1. Sự hài lòng đối với công việc Locke (1976) đã định nghĩa sự hài lòng với công việc là trạng thái cảm xúc mang lại sự thích thú hoặc trạng thái cảm xúc tích cực có được từ sự đánh giá công việc hoặc sự trải nghiệm công việc của một người (trích dẫn trong Organization behavior, Locke, 2009, trang 107).
Theo Woods et al (2004), sự hài lòng trong công việc chỉ có được khi người lao động trở thành là một phần của tổ chức, thể hiện khả năng tốt nhất của họ cũng như sự gắn kết của họ với tổ chức. Cần phân biệt sự hài lòng trong công việc với sự hài lòng trong cuộc sống. Sự hài lòng trong cuộc sống là một khái niệm rộng hơn rất nhiều. Cuộc sống bao gồm rất nhiều yếu tố: Gia đình, bạn bè, công việc, các hoạt động xã hội, thể chế chính trị,…Từ khi công việc là một phần có ý nghĩa trong cuộc sống, chiếm phần lớn lượng thời gian trong cuộc sống, sự hài lòng trong công việc gần như đồng nghĩa với sự hài lòng trong cuộc sống.
Các học thuyết về sự hài lòng đối với công việc Theo Draft (2013), các học thuyết về sự hài lòng gồm có: thang bậc nhu cầu của Maslow, thuyết hai nhân tố của Hertzberg và thuyết quá trình. Thang bậc nhu cầu của Maslow Theo thuyết Maslow (1970), các nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự từ cấp độ cơ bản đến cấp độ cao hơn. Các nhu cầu này được thể hiện theo bậc thang từ 7 thấp lên cao gồm có: nhu cầu về thể lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu địa vị và nhu cầu được thể hiện. Việc không đạt được nhu cầu này sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu khác.
Phải đạt được nhu cầu cấp thấp trước thì các nhu cầu cao hơn mới có thể thực hiện được. Theo thuyết này, những người đang nỗ lực sống qua ngày sẽ không có nhu cầu nhiều bằng những người hằng ngày luôn tìm cách đạt được những nhu cầu cao cho bản thân mình. Thuyết hai nhân tố của Hertzberg Vào cuối thập niên 50 của thế kỷ 20, Hertzberg đã phát triển một học thuyết gổm hai thang đo cho sự hài lòng đối với công việc gồm nhân tố động viên và nhân tố duy trì. Các đặc tính công việc liên quan đến sự không hài lòng khác biệt so với các đặc tính dẫn đến sự hài lòng.
Tuy vậy, thiếu các đặc tính động viên không dẫn đến sự không hài lòng. Các nhân tố duy trì gồm có: phương pháp giám sát, hệ thống phân phối thu nhập, quan hệ với đồng nghiệp, chính sách của doanh nghiệp và điều kiện làm việc. Các nhân tố động viên gồm có: sự thách thức của công việc, công việc tạo cơ hội thăng tiến, công việc có ý nghĩa và có giá trị cao được mọi người trân trọng thành tích. Thuyết hai nhân tố của Hertzberg nhấn mạnh: những nhân tố làm thỏa mãn người lao động khác với các nhân tố tạo ra sự bất mãn.
Vì vậy, không thể tạo ra sự thỏa mãn của người lao động bằng cách xóa bỏ các nguyên nhân gây ra sự bất mãn. Thuyết quá trình của sự hài lòng đối với công việc Hành vi là dấu hiệu cơ bản của nhận thức và kỳ vọng của một người vào tình hình và kết quả có thể có của hành vi. Thuyết quá trình xác định làm thế nào và vì mục đích gì mà người ta có động lực làm việc. Chúng dựa trên giả định mọi người đưa ra quyết định đều nhận thức về hành vi của họ.
Lý thuyết quá trình phổ biến nhất là lý thuyết công bằng, lý thuyết mong đợi và mô hình đặc điểm công việc. - Lý thuyết mong đợi Lý thuyết được phát triển bởi Wroom (1964). Ông khẳng định rằng sự hài lòng đối với công việc dựa vào niềm tin của mọi người về khả năng những nỗ lực của họ sẽ 8 dẫn đến kết quả làm việc nhân với khả năng kết quả làm việc đó sẽ dẫn đến những phần thưởng và những giá trị nhận được. Như vậy, những nỗ lực làm việc phụ thuộc vào lợi nhuận kỳ vọng và có thể dẫn đến tăng sự hài lòng hoặc giảm sự không hài lòng và mọi người thực hiện công việc của họ cảm thấy hài lòng nếu tin rằng những nỗ lực của họ sẽ được khen thưởng.
Nguyên tắc cơ bản của thuyết mong đợi là cần hiểu được các mục tiêu cá nhân và các mối liên hệ giữa nỗ lực và kết quả làm việc, kết quả làm việc và phần thưởng, phần thưởng và sự hài lòng các mục tiêu cá nhân. - Mô hình các đặc tính công việc Bergh and Theron (2000) mô tả mô hình này như là một mô hình tương tác giữa nhân viên và môi trường làm việc để đạt được sự phù hợp tối đa trong môi trường làm việc. Mô hình này cho rằng công việc cần được thiết kế sao cho các đặc tính của nó tạo động lực làm việc, sự hài lòng và hiệu suất làm việc. Có năm đặc điểm cốt lõi ảnh hưởng đến hành vi và thái độ của người lao động: đa dạng kỹ năng, tính đồng nhất của các nhiệm vụ, ý nghĩa của nhiệm vụ, quyền tự chủ và phản hồi.
Mối quan hệ giữa đặc điểm cốt lõi của công việc và kết quả làm việc được kiểm soát bởi mức nhu cầu tăng trưởng của người lao động, kiến thức, kỹ năng, sự hài lòng. - Lý thuyết công bằng Lý thuyết này nhấn mạnh việc so sánh điều kiện hiện có với các tiêu chuẩn bằng cách sử dụng mối quan hệ giữa hai biến: đầu vào và kết quả. Đầu vào là những gì cá nhân đóng góp vào việc trao đổi, trong khi kết quả là đại diện cho những gì cá nhân nhận được từ một cuộc trao đổi. Thuyết công bằng cho thấy các cá nhân gán trọng số vô đầu vào và kết quả phụ thuộc vào cảm nhận riêng của họ về tầm quan trọng liên quan.
Theo Daft (2013), lý thuyết công bằng là một quá trình của sự hài lòng công việc mà nó tập trung vào sự nhận thức của các nhân về việc họ được đối xử một cách công bằng khi so sánh với người khác. Điều này có nghĩa là nếu một người cảm nhận họ bị đối xử kém công bằng so với người khác họ sẽ không có động lực để thực hiện công 9 việc tốt hơn. Lý thuyết này khẳng định, mọi người sẽ so sánh tỷ lệ kết quả - đầu vào của mình với tỷ lệ kết quả - đầu vào của người khác. Đặc thù của ngành y2 1.
Tác động trực tiếp đến sức khỏe, an toàn tính mạng cho con người Không ngành nghề nào lại tác động trực tiếp đến sức khỏe, an toàn tính mạng đối tượng phục vụ như ngành y. Chỉ cần một sai sót nhỏ về chuyên môn cũng có thể ảnh hưởng đến người bệnh. Các ngành nghề khác, kể cả lĩnh vực đòi hỏi sự chính xác cao như lĩnh vực đo lường đều được cho phép những khoảng chênh lệch, sai sót cho phép. Nhưng trong ngành y, mọi sai sót đều có thể được mang ra, xem xét, bàn luận.
Dường như, mọi sai sót dù lớn hay nhỏ đều không được chấp nhận. Nó luôn đòi hỏi ra các quyết định vừa nhanh và chính xác đồng thời phải thận trọng trong các tình huống xử trí. Vì thế, làm việc trong môi trường y khoa luôn đòi hỏi sự sáng suốt, tập trung cao độ, chịu đựng những áp lực cao. Chúng ta thử so sánh với ngành cũng có tác động trực tiếp đến sinh mạng nhưng là sinh mạng của những con thú là ngành thú y.
Nếu các con thú được đưa đến bác sĩ thú y, sau khi điều trị, con thú đó chết. Hậu quả để lại không nhiều. Thậm chí, chẳng bao giờ người ta quy kết trách nhiệm cho bác sĩ thú y. Trong khi, có rất nhiều trường hợp bệnh nhân đã rất nặng khi mang đến bệnh viện.
Giai đoạn đầu của bệnh, người bệnh có thể vẫn còn tỉnh táo. Khi vô bệnh viện, được các bác sĩ cấp cứu xử trí dù đã hết mình vẫn không qua khỏi. Thân nhân bệnh nhân lại quay sang chỉ trích bác sĩ, đôi khi còn cho rằng chính bác sĩ là nguyên nhân dẫn đến bệnh nặng hơn. Trong quá trình thực hành lâm sàng, các bác sĩ phải đối diện với những trường hợp tử vong tại bệnh viện, dù đã được điều trị tích cực.
Điều này làm không ít bác sĩ mang những nỗi ám ảnh khi trở về nhà mình trong một thời gian. Giành giật sự sống 2 Tác giả tự soạn dựa trên kinh nghiệm làm việc tại bệnh viện của bản thân 10 cho bệnh nhân, đến lúc nào đó, họ cảm nhận khả năng con người quá giới hạn, không thể làm gì thêm được 1. Đối tượng phục vụ là người mang bệnh tật trong người Trong các lĩnh vực khác, hầu hết các khách hàng là những người khỏe mạnh, có tinh thần và trí hiểu tốt. Việc phục vụ những khách hàng bình thường như thế đã khó, việc phục vụ những người mang những đau đớn về bệnh tật còn khó hơn.
Bệnh nhân là những người đặc biệt, họ đang mang trong mình những nỗi đau đớn, khó chịu về thể xác đồng thời cả những nỗi lo lắng về bệnh tật, tiền bạc, khủng hoảng về tinh thần. Do đó, cách hành xử của họ đôi khi tỏ ra không bình thường: nóng này, bực tức, la ó, không chịu nghe bác sĩ giải thích, thậm chí có thể gây hại cho bác sĩ. Bệnh nhân bao gồm rất nhiều các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Dù là tầng lớp nào trong xã hội, sự chênh lệch kiến thức y khoa giữa người bệnh và bác sĩ khá lớn.
Do đó, đôi khi vì thiếu hiểu biết về bệnh tật, không tin tưởng vào sự giải thích của bác sĩ, người bệnh và bác sĩ nảy sinh mâu thuẫn. Ví dụ: Có những bệnh tương đối nhẹ đòi hỏi theo thời gian mới giảm dần triệu chứng như: sốt siêu vi, đau do viêm dạ dày, chóng mặt kịch phát lành tính,… Nhưng vì không hiểu được điều đó, bệnh nhân thường yêu cầu bác sĩ làm cho hết triệu chứng gây khó chịu cho họ càng sớm càng tốt.