ĐẶT VẤN ĐỀ Chúng ta đang sống trong sự biến đổi không ngừng của môi trƣờng, mỗi ngƣời đều chịu sự ảnh hƣởng của tuổi tác, khí hậu, biến đổi dân số và từ chính những thói quen sinh hoạt của mình. Ví dụ điển hình của sự ảnh hƣởng này lên con ngƣời chính là bệnh không lây, đứng đầu là các bệnh về tim mạch, ung thƣ, béo phì. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh về tim mạch là tăng huyết áp (THA). Theo ƣớc tính của Tổ chức y tế thế giới (WHO) có hàng triệu ngƣời bị THA và đây là nguyên nhân dẫn đến đau tim, đột quỵ, có khoảng chín triệu ca tử vong do tăng huyết áp mỗi năm.
Vào năm 2008, trên thế giới ƣớc tính 40% ngƣời trƣởng thành (độ tuổi từ 25 trở lên) mắc bệnh THA, số lƣợng ngƣời mắc bệnh tăng từ 600 triệu ngƣời năm 1980 lên đến 1 tỉ ngƣời năm 2008 [47]. Các nƣớc đang phát triển và chƣa phát triển có tỷ lệ mắc tăng huyết áp cao hơn các nƣớc đã phát triển trong đó Việt Nam là nƣớc đang phát triển, tần suất mắc tăng huyết áp ở ngƣời lớn ngày càng tăng, vào những năm 1960 tỷ lệ mắc là 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và 2005 là 18,3%. Theo thống kê năm 2015 của Hội tim mạch học Việt Nam, có trên 5454 ngƣời trƣởng thành trong quần thể 44 triệu ngƣời tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc mắc tăng huyết áp, tỷ lệ mắc tăng huyết áp là 47,3% [13]. Trên thế giới, mỗi năm có 17 triệu ca tử vong do bệnh tim mạch, chiếm gần một phần ba tổng số ca tử vong, trong đó tử vong do nguyên nhân tăng huyết áp gần 9,4 triệu ca mỗi năm[47].
Tăng huyết áp gây ra ít nhất 45% tử vong vì biến chứng tim, và 51% tử vong do biến chứng đột quỵ [47]. Theo các nghiên cứu cho thấy, ngƣời tăng huyết áp không kiểm soát đƣợc thì nguy cơ bị bệnh mạch vành tăng gấp 3 lần, suy tim tăng gấp 6 lần, đột quỵ tăng gấp 7 lần [9]. Tuy nhiên con số này có thể khống chế đƣợc bằng việc tuân thủ điều trị thuốc cũng nhƣ thay đổi lối sống lành mạnh, tăng huyết áp có thể đƣợc phòng tránh dễ dàng và ít tốn kém. Mặc dù vậy việc kiểm soát tăng huyết áp cũng gặp không ít khó khăn.
Cho dù trên thế giới đã cho ra đời những phƣơng pháp điều trị hiệu quả, nhƣng vẫn có một số lƣợng bệnh nhân bỏ điều trị trong vòng một năm đầu sau khi đƣợc chẩn đoán. Số liệu thống kê từ WHO, năm 2003, chỉ ra rằng trong số những ngƣời đƣợc chẩn đoán có 50% là tiếp tục điều trị theo đơn thuốc của họ, 75% bệnh nhân tăng huyết áp không đạt đƣợc huyết áp tối ƣu [46]. Tại Việt Nam, năm 2015, ở những ngƣời tăng Tieu luan 2 huyết áp có 39,1% (8,1 triệu ngƣời) không đƣợc phát hiện tăng huyết áp; 69% (8,1 triệu ngƣời) bị tăng huyết áp chƣa kiểm soát đƣợc [20]. Nghiên cứu về tình trạng tăng huyết áp của ngƣời dân độ tuổi từ 25-64 tuổi ở Nhơn Châu, Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định năm 2014, cho kết quả tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp là 20%, kiến thức đúng về tăng huyết áp chiếm 34,3%, và thực hành đúng về phòng chống tăng huyết áp chiếm 19,2% [22].
Trong một nghiên cứu về kiến thức bệnh nhân tăng huyết áp đang đƣợc điều trị tại bệnh viện đa khoa Bồng Sơn, thành phố Bình Định năm 2015-2016 cho thấy đa số bệnh nhân có hiểu biết về điều chỉnh lối sống nhƣng chƣa nắm rõ về điều trị dùng thuốc và nguyên tắc dùng thuốc, có 27,2% bệnh nhân cho rằng điều trị dùng thuốc chỉ khi nào huyết áp cao, dùng một đợt rồi nghỉ là 9,1% [12]. Đơn vị phòng chống tăng huyết áp Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, có nhiệm vụ khám, điều trị và quản lý tất cả các trƣờng hợp tăng huyết áp trên địa bàn toàn tỉnh. Năm 2016 theo báo cáo của Đơn vị quản lý và tƣ vấn THA Bệnh viện Đa khoa tỉnh, số bệnh nhân tăng huyết áp đƣợc quản lý và điều trị là 589 bệnh nhân. Trong đó, có 386 bệnh nhân điều trị đạt huyết áp mục tiêu (dƣới 140/90mmHg), đạt tỉ lệ 65,53% [8].
Nghĩa là vẫn tồn tại gần 203 bệnh nhân (34,46%) không đạt huyết áp mục tiêu. Vậy đặt ra vấn đề cho dù bệnh nhân có những hiểu biết nhất định về tăng huyết áp nhƣng thái độ và thực hành về tuân thủ điều trị có thể chƣa đúng, và có điều gì làm ảnh hƣởng đến sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Vì vậy đề tài “Tuân thủ điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú không đạt huyết áp mục tiêu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2017” đƣợc thực hiện để đánh giá kiến thức, thái độ và mức độ tuân thủ điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân ở nhóm điều trị không đạt huyết áp mục tiêu, góp phần quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tốt hơn, đƣa ra những biện pháp can thiệp, giáo dục sức khỏe để ngƣời bệnh hiểu đúng và điều trị hiệu quả. Tieu luan 3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Tỷ lệ có kiến thức, thái độ và tuân thủ điều trị đúng ở bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú không đạt mục tiêu điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2017 là bao nhiêu ? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Xác định tỷ lệ có kiến thức, thái độ và tuân thủ điều trị đúng ở bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú không đạt mục tiêu điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2017.
Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỷ lệ có kiến thức, thái độ đúng của bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú không đạt huyết áp mục tiêu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định. Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú không đạt huyết áp mục tiêu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định. Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị không dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú không đạt huyết áp mục tiêu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định.
Xác định mối liên quan giữa tuân thủ điều trị THA dùng thuốc với kiến thức và thái độ điều trị THA 5. Xác định mối liên quan giữa tuân thủ điều trị THA không dùng thuốc với kiến thức và thái độ điều trị THA Tieu luan 4 DÀN Ý NGHIÊN CỨU Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu Nhóm tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, giới, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, thời gian điều trị tăng Kiến thức về bệnh Thực hành tuân thủ và chế độ điều trị điều trị tăng huyết áp tăng huyết áp Thái độ về tuân thủ -Tuân thủ điều trị dùng Kiến thức về bệnh điều trị tăng huyết thuốc (MMAS-8) Nhận biết tăng áp Đôi khi quên uống huyết áp Thái độ về tuân thủ thuốc Biến chứng tăng điều trị dùng thuốc Từng không uống huyết áp Thái độ về tuân thủ thuốc trong 2 tuần Kiến thức về chế độ điều trị không dùng gần đây điều trị tăng huyết áp thuốc Từng không uống Biết cách tự theo thuốc vì cảm thấy dõi huyết áp khó chịu Biết đƣợc chế độ Tƣ vấn điều trị tăng Đôi khi quên uống điều trị tăng huyết huyết áp thuốc khi đi xa nhà áp Đã uống thuốc của Đƣợc tƣ vấn điều trị Biết đƣợc mức ngày hôm qua tăng huyết áp có dùng huyết áp cần phải thuốc Tự ngƣng uống thuốc duy trì khi huyết áp trở về Đƣợc tƣ vấn điều trị bình thƣờng tăng huyết áp không Cảm thấy việc điều dùng thuốc trị rắc rối Hiểu đƣợc chế độ -Tuân thủ điều trị điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc có dùng thuốc sau khi Tình trạng hút thuốc đƣợc tƣ vấn Tieu luan 5 CHƢƠNG 1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp 1. Định nghĩa tăng huyết áp Huyết áp (HA) là áp lực trong lòng động mạch góp phần giúp máu lƣu thông tới các mô và cơ quan.
Huyết áp bị ảnh hƣởng bởi nhịp tim, thể tích máu lƣu thông và sức đàn hồi của thành mạch. Theo WHO, huyết áp bình thƣờng của một ngƣời trƣởng thành đƣợc định nghĩa là khi huyết áp tâm thu (HATT) là 105 đến 120 mmHg và huyết áp tâm trƣơng (HATTr) là 60 đến 80 mmHg. Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trƣơng ≥90mmHg [47]. Phân loại tăng huyết áp Bảng 1.
1 Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII Huyết áp (mmHg) Phân loại THA Tâm thu Tâm trƣơng Bình thƣờng < 120 < 80 Tiền THA 120 – 139 80 – 89 THA độ I 140 – 159 90 – 99 THA độ II ≥ 160 ≥ 100 Theo JNC VII, phân loại và chẩn đoán tăng huyết áp ở ngƣời trƣởng thành dựa trên ít nhất 2 lần đo trong 2 lần thăm khám lâm sàng trở lên. Nếu HATT và HATTr rơi vào 2 phân độ khác nhau thì chẩn đoán cuối cùng dựa vào phân đọ huyết áp cao hơn. Huyết áp đƣợc chia ra làm 4 độ: bình thƣờng, tiền tăng huyết áp, tăng huyết áp độ 1 và tăng huyết áp độ 2. Tiền tăng huyết áp không đƣợc xem là tăng huyết áp, nhƣng là một nguy cơ để cảnh báo cho sự tiến triển lên tăng huyết áp độ 1 hoặc độ 2 trong tƣơng lai [23, 30].
Dịch tễ tăng huyết áp 1. Tình hình tăng huyết áp trên thế giới Thông tin đáng tin cậy về sự phổ biến của bệnh tăng huyết áp ở các khu vực khác nhau trên thế giới là cần thiết để xây dựng các chính sách y tế quốc gia và quốc tế để phòng ngừa và kiểm soát tình trạng này. Nhằm vào dữ liệu từ các khu vực khác nhau trên thế giới để ƣớc tính mức độ phổ biến và gánh nặng bệnh tăng huyết áp vào năm 2000 và để ƣớc tính gánh nặng toàn cầu vào năm 2025, năm 2005 tạp chí The Lancet đã đƣa ra số liệu thống kê cho thấy [36]: ƣớc tính toàn cầu năm 2000, trong số ngƣời trƣởng thành có 26,4% bị tăng huyết áp (26,6% nam giới và 26,1% phụ nữ), dự báo vào năm 2025 số ngƣời tăng huyết áp sẽ tăng lên 29,2%. Ƣớc tính tổng số ngƣời lớn bị tăng huyết áp năm 2000 là 972 triệu; 333 triệu ở các nƣớc phát triển kinh tế và 639 triệu ở các nƣớc đang phát triển kinh tế.
Số ngƣời lớn bị tăng huyết áp năm 2025 đƣợc dự đoán sẽ tăng khoảng 60% lên tổng cộng là 56 tỷ ngƣời. Theo WHO, năm 2008, toàn thế giới có khoảng 1 tỷ ngƣời bị tăng huyết áp, chiếm 40% dấn số trong nhóm từ 25 tuổi trở lên.