Luận văn thực trạng bệnh răng miệng và kết quả can thiệp phòng bệnh ở học sinh 12 tuổi - Trường THCS Nguyễn Du, Thái Nguyên

Thực trạng bệnh răng miệng và kết quả can thiệp phòng bệnh ở trẻ 12 tuổi trường THCS Nguyễn Du, Thái Nguyên. Cung cấp số liệu và giải pháp phòng ngừa hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Y Dược Thái Nguyên

Chuyên ngành

Y học dự phòng

Tác giả

Nông Tuấn Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh răng miệng ở trẻ 12 tuổi

Bệnh răng miệng là vấn đề sức khỏe cộng đồng phổ biến ở học sinh lứa tuổi 12. Đây là giai đoạn răng vĩnh viễn thay thế hoàn toàn răng sữa. Sâu răng và viêm lợi là hai bệnh thường gặp nhất. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh răng miệng chiếm tỷ lệ cao ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh răng miệng ở học sinh vẫn ở mức báo động. Nghiên cứu tại trường THCS Nguyễn Du, thành phố Thái Nguyên cho thấy 29,8% học sinh bị sâu răng. Tỷ lệ viêm lợi lên tới 86,2%. Bệnh răng miệng ảnh hưởng đến sức khỏe, học tập và chất lượng cuộc sống của trẻ. Can thiệp phòng bệnh răng miệng là chiến lược quan trọng trong công tác y tế học đường. Giáo dục nha khoa trong trường học mang lại hiệu quả rõ rệt. Nâng cao kiến thức và thực hành vệ sinh răng miệng là mục tiêu cốt lõi. Học sinh cần được hướng dẫn chải răng đúng cách ngay từ giai đoạn này. Việc phát hiện sớm và dự phòng giúp giảm gánh nặng bệnh tật. Bệnh răng miệng hoàn toàn có thể phòng ngừa nếu có chiến lược phù hợp.

1.1. Khái niệm và phân loại bệnh răng miệng

Sâu răng là bệnh tổn thương mô cứng của răng do vi khuẩn và acid gây ra. Viêm lợi là tình trạng viêm nhiễm phần mô quanh răng. Bệnh tiến triển âm thầm và khó phát hiện ở giai đoạn sớm. Bệnh răng miệng được phân loại theo vị trí và mức độ tổn thương. Chỉ số SMT đánh giá tình trạng sâu, mất, trám răng vĩnh viễn. Chỉ số dmft dùng để đánh giá cho răng sữa. Chỉ số mảng bám và chỉ số lợi phản ánh tình trạng viêm nhiễm. Việc phân loại chính xác giúp xác định mức độ nặng nhẹ của bệnh. Đánh giá đúng là nền tảng để xây dựng biện pháp phòng bệnh phù hợp.

1.2. Tầm quan trọng của chăm sóc răng miệng ở trẻ 12 tuổi

Giai đoạn 12 tuổi là thời điểm răng vĩnh viễn mọc đầy đủ. Đây là giai đoạn vàng để hình thành thói quen chăm sóc răng miệng. Trẻ cần được giáo dục về cách chải răng đúng chuẩn. Thói quen tốt hình thành ở giai đoạn này sẽ duy trì suốt đời. Sâu răng không điều trị sẽ ảnh hưởng đến sức nhai và thẩm mỹ. Bệnh răng miệng gây đau đớn, mất ngủ và giảm tập trung học tập. Chăm sóc răng miệng đúng cách giúp trẻ phát triển toàn diện. Đầu tư cho sức khỏe răng miệng ở lứa tuổi này mang lại lợi ích lâu dài cho cộng đồng.

II. Thực trạng bệnh răng miệng và yếu tố liên quan ở trẻ 12 tuổi

Thực trạng bệnh răng miệng ở trẻ 12 tuổi tại Việt Nam đáng báo động. Nghiên cứu tại trường THCS Nguyễn Du, Thái Nguyên khảo sát 218 học sinh. Kết quả cho thấy tỷ lệ sâu răng là 29,8%. Tỷ lệ viêm lợi lên tới 86,2%. Hầu hết học sinh đều có mảng bám và cao răng. Kiến thức về chăm sóc răng miệng của học sinh còn hạn chế. Chỉ 33,9% học sinh có kiến thức tốt về bệnh sâu răng. Thói quen vệ sinh răng miệng chưa đúng. Chỉ 36,2% học sinh chải răng vào buổi sáng hoặc tối. Chỉ 27,5% chải răng sau khi ăn. Nhiều em không chải răng đủ hai lần mỗi ngày. Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại trường chưa thường xuyên. Sự phối hợp giữa ngành giáo dục và y tế còn yếu. Đây là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ bệnh răng miệng ở học sinh.

2.1. Tỷ lệ sâu răng và viêm lợi ở học sinh

Tỷ lệ sâu răng ở trẻ 12 tuổi dao động theo từng địa phương. Tại trường THCS Nguyễn Du, tỷ lệ sâu răng là 29,8%. Trong đó, sâu răng vĩnh viễn chiếm tỷ lệ đáng kể. Tỷ lệ viêm lợi cao hơn nhiều, lên đến 86,2%. Phần lớn học sinh bị viêm lợi ở mức độ nhẹ và trung bình. Mức độ viêm lợi liên quan đến sự tích tụ mảng bám. Chỉ số nha chu phản ánh rõ tình trạng viêm nhiễm. Tỷ lệ bệnh cao cho thấy nhu cầu can thiệp sớm là cấp thiết. Việc khám và phát hiện bệnh định kỳ cần được triển khai rộng rãi tại các trường học.

2.2. Kiến thức thái độ và thực hành vệ sinh răng miệng

Kiến thức về chăm sóc răng miệng của học sinh còn thấp. Chỉ 33,9% học sinh đạt kiến thức tốt về bệnh sâu răng. Tỷ lệ thực hành đúng càng thấp hơn. Học sinh chưa có thói quen chải răng đều đặn hàng ngày. Nhiều em chải răng không đúng phương pháp. Việc sử dụng kem đánh răng có fluoride chưa phổ biến. Học sinh ít được hướng dẫn vệ sinh răng miệng tại lớp. Giáo viên chưa được tập huấn đầy đủ về nội dung nha khoa. Kiến thức và thực hành chưa tốt làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Đây là yếu tố quan trọng cần cải thiện trong các chương trình can thiệp.

III. Giải pháp can thiệp phòng bệnh răng miệng cho trẻ 12 tuổi

Can thiệp phòng bệnh răng miệng cần được triển khai toàn diện. Giáo dục nha khoa trong trường học là biện pháp nền tảng. Nội dung bao gồm kiến thức về nguyên nhân gây bệnh và cách phòng ngừa. Hướng dẫn kỹ thuật chải răng đúng cách cho học sinh. Trẻ cần chải răng ít nhất hai lần mỗi ngày bằng kem đánh răng có fluoride. Chải răng sau khi ăn để loại bỏ mảng bám hiệu quả. Khám răng định kỳ sáu tháng một lần để phát hiện sớm bệnh. Fluoride và trám bít hố rãnh giúp dự phòng sâu răng hiệu quả. Truyền thông giáo dục sức khỏe cần thực hiện thường xuyên tại trường. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và ngành y tế rất quan trọng. Nghiên cứu cho thấy can thiệp truyền thông giảm tỷ lệ sâu răng rõ rệt. Tỷ lệ sâu răng sữa giảm 19,4% sau can thiệp. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn giảm 16,06%. Kết quả này chứng minh tính khả thi của giải pháp giáo dục nha khoa.

3.1. Giáo dục nha khoa và truyền thông sức khỏe

Giáo dục nha khoa cần được lồng ghép vào chương trình học chính khóa. Truyền thông sức khỏe răng miệng nên tổ chức định kỳ tại trường. Nội dung truyền thông tập trung vào cách chải răng đúng kỹ thuật. Học sinh được hướng dẫn sử dụng bàn chải và kem đánh răng phù hợp. Giáo viên cần được tập huấn để hướng dẫn học sinh hiệu quả. Các buổi nói chuyện chuyên đề giúp nâng cao nhận thức. Tài liệu truyền thông trực quan, dễ hiểu phù hợp lứa tuổi học sinh. Sự tham gia của phụ huynh góp phần củng cố thói quen tại nhà. Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo dục nha khoa làm giảm tỷ lệ bệnh rõ rệt.

3.2. Chải răng đúng cách và dự phòng bằng fluoride

Chải răng đúng cách là biện pháp dự phòng quan trọng nhất. Học sinh nên chải răng ít nhất hai lần mỗi ngày. Thời gian chải răng tối thiểu hai phút cho mỗi lần. Kem đánh răng có fluoride giúp tái khoáng hóa men răng. Fluoride ngăn ngừa sâu răng hiệu quả ở trẻ em. Trám bít hố rãnh bảo vệ mặt nhai của răng hàm. Khám định kỳ giúp phát hiện và điều trị sớm tổn thương. Dự phòng bằng fluoride kết hợp vệ sinh tốt mang lại hiệu quả cao. Các biện pháp cần được áp dụng đồng bộ tại trường học. Bệnh răng miệng có thể phòng ngừa hoàn toàn nếu thực hiện đúng.

IV. Kết luận và ứng dụng phòng bệnh răng miệng ở trẻ

Bệnh răng miệng ở trẻ 12 tuổi là vấn đề sức khỏe đáng quan tâm. Tỷ lệ sâu răng và viêm lợi vẫn còn ở mức cao. Nguyên nhân chính là kiến thức và thực hành vệ sinh kém. Can thiệp giáo dục nha khoa mang lại kết quả tích cực. Tỷ lệ sâu răng giảm rõ rệt sau can thiệp truyền thông. Cần nhân rộng mô hình can thiệp tại các trường trung học cơ sở. Nhà trường cần đưa giáo dục nha khoa vào kế hoạch giảng dạy. Ngành y tế cần phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục. Khám răng định kỳ nên được tổ chức hằng năm cho học sinh. Cha mẹ cần hướng dẫn và giám sát trẻ vệ sinh răng miệng tại nhà. Chương trình phòng bệnh răng miệng cần được duy trì lâu dài. Đầu tư cho phòng bệnh giúp giảm chi phí điều trị. Sức khỏe răng miệng tốt góp phần nâng cao chất lượng học tập. Phòng bệnh luôn hiệu quả hơn chữa bệnh.

4.1. Ý nghĩa của can thiệp phòng bệnh răng miệng

Can thiệp phòng bệnh răng miệng có ý nghĩa to lớn về sức khỏe. Giảm tỷ lệ mắc bệnh giúp trẻ tránh đau đớn và khó chịu. Sức khỏe răng miệng tốt giúp trẻ ăn nhai và tiêu hóa tốt hơn. Học sinh khỏe mạnh có khả năng tập trung học tập cao hơn. Phòng bệnh giảm gánh nặng kinh tế cho gia đình. Chi phí phòng bệnh thấp hơn nhiều so với điều trị. Chương trình can thiệp tạo môi trường chăm sóc răng miệng lành mạnh. Lợi ích của can thiệp duy trì bền vững khi thực hiện thường xuyên. Đây là hướng đi đúng đắn cho công tác y tế học đường.

4.2. Định hướng nhân rộng mô hình can thiệp

Mô hình can thiệp cần được nhân rộng đến các trường học. Mỗi địa phương cần xây dựng kế hoạch phòng bệnh răng miệng phù hợp. Tăng cường tập huấn cho giáo viên và cán bộ y tế học đường. Xây dựng tài liệu giáo dục nha khoa chuẩn hóa cho học sinh. Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và trạm y tế. Đưa khám răng định kỳ vào hoạt động y tế học đường hằng năm. Đánh giá hiệu quả can thiệp sau mỗi giai đoạn thực hiện. Điều chỉnh biện pháp dựa trên thực trạng từng trường. Nhân rộng mô hình góp phần nâng cao sức khỏe răng miệng cộng đồng. Mục tiêu cuối cùng là giảm bền vững tỷ lệ bệnh răng miệng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn thực trạng một số bệnh răng miệng và kết quả can thiệp phòng bệnh răng miệng ở trẻ 12 tuổi trường thcs nguyễn du thành phố thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe răng miệng là một phần quan trọng trong sức khỏe toàn thân, góp phần làm tăng chất lƣợng cuộc sống cũng nhƣ hạnh phúc của mỗi ngƣời. Tuy nhiên, hiện nay sâu răng và viêm lợi là hai trong số những bệnh răng miệng phổ biến nhất ở Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc khác trên thế giới. Bệnh nếu không đƣợc điều trị, sẽ tiến triển gây biến chứng tại chỗ và toàn thân, đặc biệt ở trẻ em sẽ ảnh hƣởng không nhỏ đến sức khỏe, học tập và thẩm mỹ của trẻ sau này. Theo báo cáo của Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam tại hội nghị Nha học đƣờng Đông Nam Á lần thứ sáu tổ chức tại Hà nội tháng 11 năm 2011 thì Việt Nam hiện là nƣớc có tỷ lệ mắc bệnh răng miệng thuộc hàng cao nhất thế giới với 90% [56].

Theo báo cáo này, bệnh răng miệng ở trẻ em Việt Nam hiện đang có xu hƣớng gia tăng. Sâu răng sữa ở trẻ 6-8 tuổi chiếm 84,9% với dmft là 5,4 theo điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2001 đã tăng lên 92,2% với chỉ số sâu mất trám răng sữa là 5,7 năm 2008; Sâu răng vĩnh viễn ở trẻ 12 tuổi là 56,5% với chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn là 2,1 năm 2001 [56]. Cũng theo báo cáo này, sự phát triển kinh tế xã hội tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hƣởng đến sức khoẻ răng miệng của trẻ em Việt Nam nhƣ tiêu thụ đƣờng hiện nay tăng lên 18kg/ngƣời/năm (2010) so với 6,5kg năm 1990; tình trạng thiếu Fluor trong nƣớc vẫn chƣa đƣợc giải quyết, đặc biệt là vùng núi và vùng sâu [56]. Chƣơng trình Nha học đƣờng (NHĐ) ở Việt Nam đã đƣợc triển khai từ những năm 1980, trong đó Thái Nguyên là một trong 8 tỉnh tuyên bố phủ kín chƣơng trình NHĐ từ năm 2000.

Chăm sóc sức khỏe răng miệng ban đầu mà trọng tâm là công tác nha học đƣờng (NHĐ) với một trong bốn nội dung chính là giáo dục nha khoa nhằm nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc răng miệng ở học sinh. Theo báo cáo của Hội răng hàm mặt Việt Nam, những trƣờng làm tốt công tác Nha học đƣờng thì chỉ sau 6 năm, tỉ lệ bệnh đã giảm đáng kể, ở trẻ 12 tuổi tỉ lệ viêm lợi giảm từ 60% xuống còn 30%, chỉ số SMT giảm từ 2,1 xuống còn 1,0[56]. Giáo dục nha khoa (GDNK) đƣợc chứng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 minh là biện pháp hiệu quả để kiểm soát mảng bám răng và viêm lợi [1], [4], [6], [7], [18], [21], [44]. Nghiên cứu Tạ Quốc Đại năm 2012, sau chƣơng trình GDNK, tỷ lệ viêm lợi của nhóm can thiệp giảm rõ rệt với chỉ số can thiệp là 62,8%, trong khi tỷ lệ này lại tăng ở nhóm chứng [12].

Việc hình thành thói quen ăn uống lành mạnh và chăm sóc răng miệng đúng cách cho trẻ em nên đƣợc thực hiện càng sớm càng tốt. Do đó việc trang bị kiến thức về chăm sóc răng miệng cho các em là việc làm cần thiết giúp kiểm soát mảng bám răng, dự phòng sâu răng và các bệnh răng miệng khác. Tuy nhiên, hiệu quả việc thực hiện công tác NHĐ rất nhác nhau ở từng địa phƣơng. Trƣờng THCS Nguyễn Du là một trong số 181 trƣờng THCS trên toàn tỉnh, trƣờng nằm trên địa bàn phƣờng Hoàng Văn Thụ - trung tâm thành phố Thái Nguyên.

Học sinh trong trƣờng chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 12 đến 15. Trong đó 12 tuổi là mốc thời gian quan trọng, là bƣớc khởi đầu của bộ răng vĩnh viễn. Đây cũng là lứa tuổi mà WHO đã khuyến cáo về các độ tuổi then chốt trong chăm sóc răng miệng [62]. Chƣơng trình nha học đƣờng đã đƣợc áp dụng triển khai tại trƣờng từ năm 1994.

Việc xác định thực trạng bệnh răng miệng ở học sinh của trƣờng sau khi thực hiện chƣơng trình NHĐ và đánh giá mức độ tác động của việc giáo dục nha khoa đến tình trạng vệ sinh răng miệng ở học sinh là hết sức cần thiết, góp phần đƣa ra bằng chứng về xu hƣớng mắc các bệnh răng miệng của học sinh và tìm giải pháp thích hợp để nâng cáo chất lƣợng của chƣơng trình NHĐ hiện nay. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng một số bệnh răng miệng và kết quả can thiệp phòng bệnh răng miệng ở trẻ 12 tuổi trƣờng THCS Nguyễn Du-Thành phố Thái Nguyên” với các mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ một số bệnh răng miệng ở trẻ 12 tuổi trƣờng THCS Nguyễn Du - Thành phố Thái Nguyên năm 2014 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng ở đối tƣợng nghiên cứu.

Đánh giá kết quả can thiệp dự phòng một số bệnh răng miệng bằng giáo dục nha khoa cho đối tƣợng nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Những hiểu biết hiện nay về bệnh sâu răng và viêm lợi 1. Bệnh sâu răng Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hoá đƣợc đặc trƣng bởi sự huỷ khoáng của thành phần vô cơ và sự phá huỷ thành phần hữu cơ của mô cứng [13].

Bệnh căn và sinh học bệnh sâu răng [13].[16] Ngƣời ta cho bệnh sâu răng là một bệnh do nhiều nguyên nhân, trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra còn phải có các yếu tố thuận lợi nhƣ chế độ ăn uống nhiều đƣờng, VSRM không tốt, tình trạng sắp xếp của răng khấp khểnh, chất lƣợng men răng kém và môi trƣờng tự nhiên, nhất là môi trƣờng nƣớc ăn uống có hàm lƣợng fluor thấp (hàm lƣợng fluor tối ƣu là 0,8- 0,9 ppm/lít) đã tạo điều kiện cho sâu răng phát triển. Trƣớc năm 1970, ngƣời ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do chất đƣờng, vi khuẩn Streptococcus Mutans và giải thích nguyên nhân sâu răng bằng sơ đồ Keys: Hình 1.[16] Sau năm 1975, đã tìm ra đƣợc nguyên nhân của sâu răng và đƣợc giải thích bằng sơ đồ WHITE thay thế một vòng tròn của sơ đồ KEYS chất đƣờng bằng vòng tròn chất nền Substrate nhấn mạnh vai trò nƣớc bọt chất trung hoà – Buffers và pH của dòng chảy môi trƣờng xung quanh răng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Ngƣời ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của Fluor khi gặp Hydroxyapatite của răng kết hợp thành Fluoroapatite rắn chắc, chống đƣợc sự phân huỷ của axít tạo thành thƣơng tổn sâu răng.

Vi khuẩn Răng SR khuẩn Chất nền Hình 1.[16] Răng: Tuổi, fluoride, dinh dƣỡng vv. Vi khuẩn: Streptococcus mutans. Chất nền: Các chất đƣờng, cặn bám thức ăn trên răng, Môi trƣờng miệng: Nƣớc bọt, pH vùng quanh răng, khả năng trung hoà của nƣớc bọt. Theo nghiên cứu của Fejerskov O (2005) [37] còn có một số yếu tố ảnh hƣởng đến sâu răng nhƣ nƣớc bọt (khả năng đệm, thành phần, lƣu lƣợng), sự xuất hiện của đƣờng, pH ở mảng bám răng, thói quen nhai kẹo cao su, sử dụng các biện pháp bổ sung Fluor, trám bít hố rãnh phòng ngừa sâu răng, kháng khuẩn.

Một số yếu tố về nhân chủng cũng ảnh hƣởng đến sâu răng nhƣ Nhân chủng – xã hội học, thu nhập, bảo hiểm nha khoa, kiến thức, thái độ, hiểu biết về sức khỏe răng miệng, các hành vi liên quan đến sức khỏe răng miệng, trình độ học vấn và địa vị xã hôi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.3: Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng (theo Fejerkor 2005 [37] Ngƣời ta có thể tóm lƣợc cơ chế sinh học bệnh sâu răng bằng hai quá trình hủy khoáng và tái khoáng. Mỗi quá trình đều do một số yếu tố thúc đẩy. Nếu quá trình hủy khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ xuất hiện sâu răng SÂU RĂNG = HUỶ KHOÁNG > TÁI KHOÁNG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng: + Mảng bám vi khuẩn + Chế độ ăn đƣờng nhiều lần + Thiếu nƣớc bọt hay nƣớc bọt acid Các yếu tố bảo vệ: + Acid từ dạ dày tràn lên miệng + Nƣớc bọt + pH< 5 + Khả năng kháng acid của men + Vệ sinh răng miệng kém + Fluor có ở bề mặt men răng + Trám bít hố rãnh + Độ Ca2+, PO43- quanh răng + pH > 5,5 + Vệ sinh răng miệng tốt Với sự hiểu biết nhiều hơn về sinh bệnh học quá trình sâu răng nên hơn hai thập kỷ qua loài ngƣời đã đạt đƣợc nhiều thành tựu lớn trong dự phòng sâu răng.

Tiến triển của bệnh sâu răng Sâu răng đƣợc chia làm nhiều mức độ tuỳ theo thời gian tiến triển. Nếu ở mức độ nhẹ không điều trị sẽ tiến triển thành mức độ tiếp theo nặng hơn từ sâu men thành sâu ngà, đến viêm tuỷ, tuỷ hoại tử, viêm quanh cuống, viêm xƣơng hàm. Phân loại sâu răng [13], [16] Tùy theo tác giả mà có các cách phân loại nhƣ phân loại theo vị trí của lỗ sâu trên răng của Black đƣợc chia thành 5 loại. Phân loại theo diễn biến của sâu răng, sâu răng cấp tính và sâu răng mạn tính.

Ngày nay, với sự tiến bộ của chất hàn mới ngƣời ta cũng có cách phân loại khác nhau mức độ, tính chất, nghề nghiệp, dựa theo chất hàn mới. Cách phân loại đƣợc nhiều ngƣời ứng dụng là phân loại theo cách điều trị hoặc mức độ tổn thƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 * Phân loại theo mức độ tổn thương - Sâu men - Sâu ngà nông, sâu ngà sâu - Sâu răng có kèm theo tổn thƣơng tủy - Sâu răng làm chết tủy và gây các biến chứng ở chóp răng * Theo mức độ tiến triển - Sâu răng cấp tính: Lỗ vào nhỏ, bên dƣới phá hủy rộng, có nhiều ngà mềm màu vàng, cảm giác ê buốt nhiều thƣờng gặp ở ngƣời trẻ, bệnh tiến triển nhanh dễ dẫn tới bệnh lý tủy. - Sâu răng tiến triển - Sâu răng mạn tính: Ngà mủn ít, sẫm màu, cảm giác kém - Sâu răng ổn định: Đáy cứng, không đau * Phân loại theo vị trí lỗ sâu Đƣợc chia làm 5 loại - Loại 1: Sâu mặt nhai các răng hàm lớn và nhỏ.

- Loại 2: Lỗ sâu ở mặt bên các răng hàm lớn và răng hàm nhỏ. - Loại 3: Lỗ sâu mặt bên các răng cửa trên và dƣới chƣa ảnh hƣởng đến rìa cắn. - Loại 4: Lỗ sâu mặt bên các răng cửa trên và dƣới ảnh hƣởng đến rìa cắn. - Loại 5: Lỗ sâu ở cổ răng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ