Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về ung thư trực tràng Ung thư trực tràng đã được nghiên cứu từ lâu, có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ung thư trực tràng. Chúng tôi xin điểm qua một vài nghiên cứu sau đây. Nghiên cứu ngoài nước Năm 2010, một công trình của Olde Bekkink và cộng sự tập hợp 8 nghiên cứu trên tổng cộng 2323 bệnh nhân nhằm đánh giá độ chính xác chẩn đoán của các triệu chứng và cận lâm sàng trên bệnh nhân tiêu ra máu, có nguy cơ ung thư đại trực tràng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Kết quả cho thấy độ tuổi ≥60 tuổi, sụt cân và thay đổi thói quen đi cầu làm tăng xác suất ung thư đại trực tràng trên những bệnh nhân được đề nghị chuyển lên tuyến cao hơn nhưng không phải là yếu tố quyết định chẩn đoán. Sự hiện diện của thiếu máu nặng có giá trị chẩn đoán cao nhất với độ đặc hiệu 95%. Tác giả kết luận rằng ở bệnh nhân tiêu ra máu đến khám tại phòng khám, các triệu chứng chỉ điểm có giá trị tương đối [56]. Năm 2014, tác giả Dar RA và cộng sự công bố nghiên cứu trên 52 bệnh nhân ung thư trực tràng sử dụng máy CLVT 64 dãy đánh giá giai đoạn TNM.
Kết quả độ chính xác của cắt lớp vi tính đa lát cắt (MDCT: multidetector computed tomography) trong xác định T1/T2, T3 và T4 lần lượt là 77%, 86,5% và 100%. Đối với di căn hạch quanh trực tràng, độ chính xác của MDCT là 84,1% [37]. Năm 2015, Raman và cộng sự công bố kết quả nghiên cứu về sự tiến bộ của chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán ung thư trực tràng bao gồm 3 phương 4 tiện: cắt lớp vi tính đa lát cắt, cộng hưởng từ (MRI: Magnetic resonance imaging) và chụp xạ hình cắt lớp positron (PET: positron emission tomography). Nghiên cứu chỉ ra rằng MDCT, MRI và PET là những phương tiện bù trừ cho nhau trong đánh giá giai đoạn trước mổ ung thư trực tràng, chúng đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng.
MRI là phương tiện tốt nhất để đánh giá xâm lấn tại chỗ, có thể giữ vai trò quan trọng trong quyết định bệnh nhân có nên được hóa xạ trị trước mổ cắt toàn bộ mạc treo trực tràng hay không. Bên cạnh đó, cả MDCT và PET đều được đề nghị là phương tiện ban đầu trong đánh giá di căn xa nhưng có giới hạn trong đánh giá di căn tại chỗ [57]. Một nghiên cứu khác của Li Xiao Ting và các cộng sự công bố năm 2015 đánh giá di căn hạch ở bệnh nhân ung thư trực tràng bằng MRI, siêu âm qua ngã trực tràng (EUS: endorectal ultrasound) và CLVT. Nghiên cứu phân tích dữ liệu từ 123 nghiên cứu đánh giá di căn hạch.
Kết quả: độ nhạy và độ đặc hiệu ở bệnh nhân chưa hóa xạ trị là 0,77 và 0,76 đối với MRI; 0,57 và 0,8 đối với EUS; 0,79 và 0,76 đối với CLVT [49]. Nghiên cứu của Hisanaga Horie và cộng sự công bố năm 2015, đánh giá phân loại giai đoạn T theo TNM ung thư trực tràng bằng CLVT trên 70 bệnh nhân ung thư trực tràng chuẩn bị phẫu thuật với mục đích làm sáng tỏ giá trị khác nhau của CLVT trong phân biệt giai đoạn T3 – T4 và T1 – T2. Kết quả tỉ lệ T1, T2 và T3/T4 trên CLVT lần lượt là 10%, 30% và 70%. Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính và độ chính xác của CLVT trong đánh giá T3/T4 lần lượt là 72%, 88%, 91% và 79% [45].
Nghiên cứu trong nước Năm 2003, Nguyễn Sào Trung báo cáo kết quả nghiên cứu 480 mẫu nội soi sinh thiết đại trực tràng, đối chiếu các đặc điểm lâm sàng với các đặc điểm nội soi và chẩn đoán vi thể từ đó thu được các kết quả: lứa tuổi từ 51 – 70 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (44,3%). Riêng các nhóm có ung thư đại – trực tràng, tỉ lệ 5 trong nhóm tuổi này là 55,4%. Không có sự khác biệt về tần suất ung thư giữa hai giới nam và nữ. Tỉ lệ phần trăm theo thứ tự 4 nhóm bệnh: ung thư, viêm, polyp và u lành lần lượt là: 48%, 30%, 13,75% và 6,87%.
Vị trí ung thư: trực tràng: 65,36%, đại tràng sigma: 9,95%; loại carcinôm tuyến chiếm 96%. Tỉ lệ tương hợp giữa chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán giải phẫu bệnh (trong nhóm ung thư) là 70,56% [23]. Nguyễn Hoàng Bắc, Nguyễn Hữu Thịnh và cộng sự nghiên cứu hồi cứu 482 bệnh nhân điều trị phẫu thuật nội soi ung thư trực tràng tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01 năm 2003 đến tháng 6 năm 2009. Kết quả tuổi trung bình của bệnh nhân là 58 tuổi với tỉ lệ nam nữ tương ứng là 48% và 52%, đồng thời kết luận phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng là phương pháp an toàn, biến chứng thấp, thời gian nằm viện và hồi phục ngắn.
Các biến chứng sau mổ nếu phát hiện sớm có thể xử trí lại qua phẫu thuật nội soi mà không cần mở bụng. Cần những nghiên cứu đánh giá kết quả lâu dài về ung thư học [2]. Tại Cần Thơ năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Tuấn báo cáo nghiên cứu 34 trường hợp ung thư trực tràng được cắt trước cực thấp qua nội soi tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2013. Kết quả độ tuổi trung bình là 59,2 tuổi; nữ giới mắc nhiều hơn nam giới (64,7% và 35,3%).
CLVT bụng chậu phát hiện khối u trực tràng trong 90% trường hợp [24]. Cùng năm, tác giả Đoàn Anh Vũ báo cáo nghiên cứu 58 trường hợp ung thư trực tràng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 5 năm 2014 cho kết quả có 100% trường hợp ung thư biểu mô tuyến trực tràng, độ phù hợp giải phẫu bệnh trước và sau phẫu thuật là 95%. CLVT bụng chậu phát hiện khối u trực tràng trong 100% trường hợp [26]. Sơ lược giải phẫu trực tràng 1.
Vị trí, hình thể trực tràng và liên quan Giải phẫu học chia ruột già – đoạn ống tiêu hóa bắt đầu từ manh tràng tới hậu môn thành 4 phần: manh tràng, đại tràng, trực tràng và ống hậu môn. Trực tràng dài 12 – 15cm, nhìn trước tới thì thẳng nên gọi là trực tràng nhưng nhìn nghiêng thì cong theo đường cong của xương cùng cụt, lúc đầu cong lõm ra trước tạo nên góc cùng và tại chỗ nối với ống hậu môn thì cong lõm ra sau tạo nên góc đáy chậu [3]. Trực tràng là phần tiếp theo của đại tràng xích ma. Chỗ nối đại tràng xích ma và trực tràng cũng được miêu tả khác nhau theo tác giả: Một điểm phía trước khớp cùng chậu trái.
Ngang mức đốt sống cùng 3. Ngang mức mà mạc treo đại tràng xích ma biến mất. Ngang mức túi thừa mạc nối biến mất và các dải cơ dọc mở rộng ra để hình thành một lớp cơ hoàn chỉnh. Ngang mức động mạch mạc treo tràng trên chia ra thành các nhánh phải và trái.
Ngang mức nếp trực tràng trên (không hằng định). Tại vị trí chuyển tiếp của niêm mạc nhăn nheo của đại tràng với niêm mạc trơn láng của trực tràng. Tại mức góc trước (trong nội soi trực tràng) [4]. Ruột già và trực tràng (Nguồn: Health, Medicine and Anatomy Reference Pictures (2013) [42]) Về liên quan, trực tràng nằm trước xương cùng cụt và các mạch máu thần kinh ở xương cùng.
Ở nam thì trực tràng nằm sau bàng quang, các quai ruột non, ống tinh, túi tinh, tiền liệt tuyến và ngăn cách với các tạng sinh dục này bởi mạc tiền liệt – phúc mạc chạy từ túi cùng trực tràng bàng quang tới đáy chậu. Còn ở nữ thì trực tràng nằm sau tử cung và thành sau âm đạo, ngăn cách với thành này bởi một mạc gọi là mạc trực tràng âm đạo rất dễ bóc tách. Ở hai bên, trực tràng liên quan ở phía trên thông qua phúc mạc với các quai ruột non, đại tràng xích ma và ở phía dưới phúc mạc với bao xơ có chứa đám rối thần kinh hạ vị [3]. Thành trực tràng nói chung cũng giống như đại tràng, gồm 5 lớp từ trong ra ngoài: lớp niêm mạc, lớp dưới niêm mạc chứa thần kinh và mạch máu, lớp 8 cơ gồm cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài, lớp dưới thanh mạc, thanh mạc (phúc mạc tạng) [3].
Tuy nhiên có một vài điểm riêng biệt: Phúc mạc chỉ phủ mặt trước của hai phần ba trên của trực tràng [7]. Ba dãy cơ dọc tỏa ra và hòa lẫn vào nhau [3]. Về giải phẫu trực tràng được chia thành 3 phần: 1/3 trực tràng trên: đoạn 11 – 15cm cách bờ hậu môn. 1/3 trực tràng giữa: đoạn 6 – 11cm cách bờ hậu môn.
1/3 trực tràng dưới: đoạn 0 – 6cm cách bờ hậu môn [17]. Động mạch Hình 1. Động mạch cấp máu cho trực tràng (Nguồn: Schwartz’s Principles of Surgery (2015) [48]) Trực tràng hậu môn được cung cấp máu bởi ba động mạch: trực tràng trên, giữa và dưới. Động mạch trực tràng trên là một nhánh của động mạch mạc treo 9 tràng dưới, đi xuống dưới trong lá thanh mạc bao bọc trực tràng để nuôi dưỡng cho phần trên và giữa trực tràng.
Động mạch trực tràng dưới đi tới thành bên trực tràng, vòng ra sau cấp máu cho cơ thắt hậu môn và biểu mô. Động mạch trực tràng giữa chia ra từ động mạch chậu trong [46]. Tĩnh mạch Tĩnh mạch trực tràng trên thu nhận máu tĩnh mạch của 1/3 trên và 1/3 giữa trực tràng, hòa vào hệ thống cửa qua tĩnh mạch mạc treo tràng dưới. Tĩnh mạch trực tràng giữa nhận máu từ phần dưới trực tràng và phần trên ống hậu môn rồi đổ vào tĩnh mạch chậu trong.
Tĩnh mạch trực tràng dưới nhận máu từ phần thấp của ống hậu môn rồi đổ vào tĩnh mạch chậu trong. Thông qua hệ tĩnh mạch, các ung thư trực tràng vị trí thấp có thể di căn theo cả hệ thống tuần hoàn cửa và chủ [46]. Hệ bạch huyết Bạch huyết của phần trên và giữa trực tràng đổ vào chuỗi hạch mạc treo tràng dưới. Bạch huyết của phần dưới trực tràng đổ vào hệ bạch huyết mạc treo tràng dưới hoặc mạng lưới bạch mạch dọc theo động mạch trực tràng giữa và dưới, hay đi theo phía sau động mạch cùng trên, cũng có thể đi ra trước thông qua các kênh để tới chuỗi hạch vùng chậu và cuối cùng đến chuỗi hạch quanh động mạch chủ.