ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đại trực tràng (UTĐTT, Colorectal cancer – CRC) là bệnh ung thư phổ biến thứ ba trên toàn thế giới [1]. Phẫu thuật được cho là giải pháp chính để điều trị bệnh trong giai đoạn sớm. Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp bệnh được phát hiện đã ở giai đoạn di căn, không thể chữa trị. Trong suốt quá trình phát triển bệnh, các gen gây ung thư và gen ức chế sự hình thành khối u đặc trưng ở các tế bào biểu mô ruột tích lũy dần các đột biến, gây bất hoạt các gen vốn có chức năng bình thường để duy trì sự ổn định của nhiễm sắc thể trong quá trình nhân bản.
Trong các bất thường vật chất di truyền liên quan đến quá trình sinh ung thư, sự bất ổn định ở các siêu tiểu vệ tinh (Microsatellite instablility – MSI) được xem như là con đường chính yếu trong quá trình phát triển ung thư. MSI liên quan đến sự rối loạn chức năng của hệ thống các gen sửa sai (Mismatch repair genes – các gen MMR), dẫn đến việc làm thay đổi chiều dài của các đoạn trình tự ADN lặp lại nhiều lần. Sự rối loạn này được xác định là do các đột biến xảy ra ở các gen MLH1 và MSH2 (chiếm đến 90%), MSH3, MSH6, PMS2 hay những thay đổi biểu sinh liên quan đến việc bất thường trong methyl hóa ở gen MLH1 cho phép các siêu tiểu vệ tinh được tích lũy trong quá trình tăng sinh của tế bào. Hiện nay, có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của hệ thống MMR đối với UTĐTT.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào từng gen đơn lẻ: nghiên cứu về đột biến trên gen MLH1 , đột biến trên MSH2 … Trong khi đó, chưa có một hệ thống nào tập hợp dữ liệu cho cả 4 gen trong hệ thống MMR. Hơn thế nữa, ngay cả trang thông tin Colon Atlas cũng cung cấp dữ liệu về vị trí đa hình của các gen quan tâm, nhưng các vị trí đa hình này được xác định không nhất quán gây khó khăn cho người sử dụng. Trên cơ sở đó, việc xây dựng một cơ sở dữ liệu chứa tập hợp các thông tin liên quan đến đột biến trên các gen thuộc hệ thống MMR là rất cần thiết. Theo đó, có thể tầm soát các đột biến xảy ra trên các gen thuộc MMR, cung cấp nguồn thông tin quý giá cho việc tiên lượng nguy cơ UTĐTT trong giai đoạn sớm, giúp bác sĩ can thiệp kịp thời, nâng cao hiệu quả điều trị bệnh.
Hiểu được tầm quan trọng của việc xây dựng cơ sở dữ liệu về đột biến gen 1 nhóm MMR. Ngoài ra, do mỗi gen có một đặc thù về các biến thể khác nhau nên cơ sở dữ liệu sẽ được xây dựng theo từng bước. Vì vậy, việc tầm soát các đột biến xảy ra trên các gen MLH1, MSH2, MSH3, MSH6 và PMS2 có ý nghĩa rất lớn trong việc điều trị đối với bệnh nhân ung thư trực tràng nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Việc xác định được các đột biến này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho việc tiên lượng bệnh trong giai đoạn sớm, giúp bác sĩ can thiệp kịp thời, nâng cao hiệu quả điều trị UTĐTT.
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước đầu phân tích và đánh giá một số đột biến gen điển hình liên quan đến ung thư đại trực tràng tại Việt Nam bằng bộ công cụ tin sinh học” để có thể áp dụng tầm soát các đột biến gen ung thư đại trực tràng cho bệnh nhân tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được các đột biến đặc trưng trên các gen MLH1, MSH2, MSH6, PMS2…ở bệnh nhân ung thư trực tràng đã được công bố trên NCBI. - Phân tích trình tự các gen kể trên liên quan đến sự bất ổn định vi vệ tinh (MSI) bằng bộ công cụ tin sinh học nhằm hỗ trợ chẩn đoán sớm nguy cơ ung thư trực tràng. Nội dung nghiên cứu - Xác định các đột biến trên các gen mục tiêu liên quan đến bệnh ung thư trực tràng: Phân tích trình tự, so sánh với các trình tự tương ứng đã được công bố trên thế giới nhằm xác định các đột biến đặc trưng.
- Xây dựng trang web database thông qua phần mềm tin sinh học bao gồm cơ sở dữ liệu và trang web lưu trữ dữ liệu hỗ trợ tiên đoán nguy cơ ung thư trực tràng dựa trên kết quả giải trình tự của các gen khảo sát. Giới thiệu về ung thư đại trực tràng (UTĐTT) Theo tổ chức Y tế thế giới, hiện nay bệnh ung thư gây tử vong nhiều hơn cả bệnh tim – mạch vành và đột quỵ. Trong đó, UTĐTT là loại ung thư được chuẩn đoán phổ biến thứ ba ở nam giới và thứ hai ở nữ giới [1]. Mặc dù độ tuổi 60 – 70 tuổi có tần suất mắc UTĐTT cao nhất, trong những năm gần đây, tần suất UTĐTT ở người trẻ tuổi ( ≤ 50 tuổi) đang có dấu hiệu tăng lên.
Bệnh nhân UTĐTT trẻ thường được phát hiện ở giai đoạn muộn (giai đoạn III/ IV) so với nhóm bệnh nhân lớn tuổi nên có tiên lượng rất kém [2,3]. Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là bệnh lý khá phổ biến trên thế giới và hàng đầu tại Việt Nam, mỗi năm có gần 800.000 người mới mắc ung thư đại tràng và khoảng nửa triệu người chết vì bệnh này [4]. Ở Bắc Mỹ và Châu Âu, số người chết vì bệnh đứng thứ 2 sau ung thư vú và phổi ở nữ [5]. Tỷ lệ mắc UTĐTT khác nhau đáng kể giữa các vùng trên thế giới.
Ở các nước phát triển tỷ lệ này cao gấp 4-10 lần các nước đang phát triển [6]. Ở Việt Nam, UTĐTT đứng thứ 5 sau ung thư dạ dày, phổi, vú và ung thư vòm họng. Theo thống kê của bệnh viện K, tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng là 9% tổng số bệnh nhân ung thư [7]. Có nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới UTĐTT như: địa lý, chế độ ăn uống, vai trò của muối mật, pH phân, nghề nghiệp và hội chứng đa polyp gia đình.
[8] Những đột phá trong việc phát triển hệ thống xử lý đồ họa đã mang lại tiềm năng lớn cho việc chẩn đoán và phát hiện UTĐTT. Gần đây, trong việc xử lý kỹ thuật số, việc sử dụng công nghệ tin sinh học đã thu hút sự chú ý đáng kể để sử dụng trong chẩn đoán hiệu quả các loại ung thư khác nhau, đặc biệt là ung thư đại trực tràng (CRC), được coi là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong liên quan đến ung thư trên toàn thế giới. Với việc sàng lọc thường xuyên, ung thư ruột kết có thể được phát hiện sớm, khi điều trị hiệu quả hơn với bộ công cụ CAD với những tiến bộ gần đây là công cụ phát hiện hiệu quả để phát hiện ung thư polyp đại tràng. Hay 3 như công cụ hỗ trợ (PDS) dựa vào kết nối internet để hỗ trợ quyết định sàng lọc UTĐTT bằng cách xét ngiệm máu ẩn trong phân.
Ngoài ra trên thế giới có rất nhiều bộ công cụ dữ liệu để chẩn đoán UTDDTT như: công cụ iStar (Inferring Super- Resolution Tissue Architecture), được phát triển bởi nhóm nghiên cứu tại Trường Y khoa Perelman thuộc Đại học Pennsylvania-Hoa Kỳ, công cụ Transformer… Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các phần mềm và bộ công cụ máy tính như: Phần mềm Clustal X, Phần mềm Sea View, Ngôn ngữ lập trình R. UTĐTT phát sinh từ biểu mô đại trực tràng là kết quả của sự tích tụ các thay đổi di truyền trong các gen gây ung thư xác định và các gen ức chế khối u (Tumour suppressior genes-TGS). Tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác nhau trên thế giới 1. Các yếu tố dẫn đến UTĐTT 1.
Tiền sử gia đình 4 Khoảng 20% những người ung thư đại trực tràng có ít nhất một người thân trong gia đình cũng bị ung thư đại trực tràng. Nếu một người có người thân bị ung thư đại trực tràng thì nguy cơ bị bệnh tăng lên gấp hai lần [9]. Đối với người có tuổi dưới 45 nếu có từhai người thân bị bệnh ung thư đại trực tràng thì nguy cơ tăng lên gấp năm lần [10]. Ăn nhiều thịt đỏ Việc ăn quá nhiều các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt trâu, thịt chó, thịt dê,.
sẽ làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Nguyên nhân là do các loại thịt đỏ khi được chế biến ở nhiệt độ cao sẽ làm sản sinh ra các acid amin dị vòng HCAs và PAHs. Các Acid Amin này sẽ phản ứng với protein, creatinin, đường,. phát sinh thành các biểu mô bất thường hình thành nên ung thư [11].
Ăn nhiều thực phẩm muối, lên men Thực phẩm muối, lên men thường xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày. Chúng giúp bữa ăn ngon miệng hơn, chống ngán. Tuy nhiên, các loại thực phẩm muối chua như kim chi, dưa muối, cà muối,. nếu không được muối kỹ sẽ chứa rất nhiều muối nitrit.
Chúng sẽ kết hợp với các amin bậc 2 trong thực phẩm và biến đổi thành nitrosamin có khả năng gây ung thư, đặc biệt là các bệnh ung thư đường tiêu hóa. Ăn nhiều đồ ăn chế biến sẵn Đồ ăn nhanh, đồ ăn chế biến sẵn ngày càng phổ biến trong cuộc sống bởi chúng tiện lợi, ngon miệng, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống bận rộn. Tuy nhiên, đồ ăn nhanh, đồ ăn chế biến sẵn chưa bao giờ có lợi có sức khỏe. Trong các loại thực ăn chế biến sẵn như xúc xích, lạp xưởng, thịt xông khói,.
có hàm lượng natri nitrit rất cao. Đây là chất độc gây nên các bệnh về tiêu hóa, trong đó có ung thư đại trực tràng. Bia rượu, thuốc lá Đồ uống có cồn có thể yếu tố thuận lợi cho khối u đại trực tràng (ĐTT) hình thành và phát triển thông qua nhiều cơ chế trực tiếp lẫn gián tiếp. Rượu ethanol có thể gây ra sự tăng sản của tế bào dẫn đến việc hình thành các khối u.
Rượu, bia, thuốc 5 lá không chỉ là thủ phạm gây nên ung thư đại trực tràng mà còn liên quan đến rất nhiều bệnh ung thư khác [12][13][14]. Trong thuốc lá có chứa hơn 7000 chất độc hại, trong đó có 69 chất gây ung thư ảnh hưởng trực tiếp đến người hút thuốc và người hít phải khói thuốc. Người hút thuốc lá sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư đại tràng cao gấp nhiều lần nếu kèm theo thói quen thường xuyên uống rượu bia [15]. Ít hoạt động và thể lực béo phì Mạch chậm lúc nghỉ ngơi có liên quan tỉ lệ nghịch với UTĐTT (mạch chậm – nguy cơ UTĐTT cao hơn).
Những phát hiện này giúp giải thích sự tăng tỉ lệ mắc UTĐTT ở nhóm định cư tại thành phố và nơi có điều kiện kinh tế phát triển.