Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hình ảnh nội soi mô bệnh học và đột biến gen kras braf trên bệnh nhân polyp tuyến và ung thư đại trực tràng

Luận án tiến sĩ y học khảo sát hình ảnh nội soi, mô bệnh học và đột biến gen KRAS, BRAF ở bệnh nhân polyp tuyến, ung thư đại trực tràng.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Khoa học Y dược lâm sàng 108

Chuyên ngành

Nội tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

177
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Nội soi và vai trò trong chẩn đoán polyp tuyến và ung thư đại trực tràng

Nội soi là phương pháp chẩn đoán quan trọng trong phát hiện sớm polyp tuyếnung thư đại trực tràng. Nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật nội soi hiện đại như nội soi phóng đạinội soi tăng cường màu sắc để phân tích hình thái, kích thước, và cấu trúc bề mặt của polyp. Hình ảnh nội soi giúp xác định vị trí, số lượng, và đặc điểm của polyp, từ đó hỗ trợ chẩn đoán và điều trị sớm. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc trì hoãn nội soi sau khi có kết quả xét nghiệm máu ẩn trong phân dương tính làm tăng nguy cơ tiến triển ung thư.

1.1. Đặc điểm hình ảnh nội soi polyp đại trực tràng

Hình ảnh nội soi polyp đại trực tràng được phân loại theo các tiêu chí như hình thái, kích thước, và cấu trúc bề mặt. Các polyp được chia thành nhiều loại, bao gồm polyp tuyến ống, polyp răng cưa, và polyp có loạn sản. Nghiên cứu sử dụng các phân loại như Paris, Kudo, và NICE để đánh giá mức độ nguy cơ của polyp. Nội soi phóng đạinhuộm màu giúp phân biệt rõ ràng giữa polyp lành tính và polyp có nguy cơ ung thư hóa.

1.2. Vai trò của nội soi trong sàng lọc ung thư đại trực tràng

Nội soi được coi là phương pháp hiệu quả nhất trong sàng lọc ung thư đại trực tràng, đặc biệt ở giai đoạn sớm. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc thực hiện nội soi định kỳ giúp giảm tỷ lệ tử vong do ung thư. Các kỹ thuật nội soi hiện đại như nội soi tế bàonội soi phóng đại cho phép chẩn đoán chính xác đến mức độ tế bào, từ đó hỗ trợ điều trị kịp thời.

II. Mô bệnh học và đặc điểm của polyp tuyến và ung thư đại trực tràng

Mô bệnh học đóng vai trò quan trọng trong việc xác định bản chất của polyp tuyếnung thư đại trực tràng. Nghiên cứu phân tích các đặc điểm mô học như cấu trúc tế bào, mức độ loạn sản, và sự xâm lấn của tế bào ung thư. Các polyp được phân loại dựa trên mức độ loạn sản từ thấp đến cao, trong đó polyp loạn sản độ cao có nguy cơ ung thư hóa cao hơn. Phân tích mô học cũng giúp xác định các yếu tố tiên lượng như xâm lấn mạch máu và thần kinh.

2.1. Đặc điểm mô bệnh học polyp đại trực tràng

Mô bệnh học polyp đại trực tràng bao gồm các đặc điểm như cấu trúc tế bào, mức độ loạn sản, và sự hiện diện của các tế bào ung thư. Polyp được chia thành polyp tuyến ống, polyp răng cưa, và polyp có loạn sản. Nghiên cứu chỉ ra rằng polyp loạn sản độ cao có nguy cơ ung thư hóa cao hơn so với polyp loạn sản độ thấp. Phân tích mô học cũng giúp xác định các yếu tố tiên lượng như xâm lấn mạch máu và thần kinh.

2.2. Đặc điểm mô bệnh học ung thư đại trực tràng

Mô bệnh học ung thư đại trực tràng bao gồm các đặc điểm như cấu trúc tế bào, mức độ biệt hóa, và sự xâm lấn của tế bào ung thư. Nghiên cứu phân loại ung thư dựa trên hệ thống TNM, từ đó đánh giá giai đoạn bệnh và tiên lượng. Các yếu tố như xâm lấn mạch máu, thần kinh, và di căn hạch được xem xét để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

III. Đột biến gen KRAS và BRAF trong polyp tuyến và ung thư đại trực tràng

Đột biến gen KRASBRAF là những yếu tố di truyền quan trọng trong quá trình phát triển từ polyp tuyến thành ung thư đại trực tràng. Nghiên cứu chỉ ra rằng các đột biến này xuất hiện sớm trong quá trình chuyển dạng từ niêm mạc bình thường sang polyp và ung thư. Đột biến gen KRAS thúc đẩy sự tiến triển của polyp theo hướng loạn sản độ cao, trong khi đột biến gen BRAF liên quan đến sự phát triển của polyp răng cưa và nguy cơ ung thư hóa.

3.1. Đột biến gen KRAS trong polyp và ung thư đại trực tràng

Đột biến gen KRAS được tìm thấy trong nhiều trường hợp polyp tuyếnung thư đại trực tràng. Nghiên cứu chỉ ra rằng đột biến này thúc đẩy sự tiến triển của polyp theo hướng loạn sản độ cao và ung thư hóa. Đột biến gen KRAS cũng liên quan đến khả năng kháng trị liệu nhắm mục tiêu, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

3.2. Đột biến gen BRAF trong polyp và ung thư đại trực tràng

Đột biến gen BRAF thường xuất hiện trong các trường hợp polyp răng cưa và có liên quan đến nguy cơ ung thư hóa. Nghiên cứu chỉ ra rằng đột biến này thúc đẩy sự phát triển của polyp răng cưa và tiềm ẩn nguy cơ trở thành ung thư đại trực tràng. Đột biến gen BRAF cũng được xem là yếu tố tiên lượng xấu trong điều trị ung thư.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hình ảnh nội soi mô bệnh học và đột biến gen kras braf trên bệnh nhân polyp tuyến và ung thư đại trực tràng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU ĐẠI TRỰC TRÀNG Đại trực tràng là phần cuối của ống tiêu hóa, nối tiếp với hồi tràng ở góc hồi manh tràng và đi tới hậu môn. Đại tràng sắp xếp như một khung hình chữ U ngược bao lấy tiểu tràng. Chiều dài trung bình của đại tràng từ 1,4 – 1,8m, bằng khoảng 1/4 chiều dài tiểu tràng, đường kính to nhất là ở manh tràng khoảng 7cm, sau đó giảm dần đến đại tràng sigma, tới trực tràng phình lên thành bóng trực tràng.

ĐTT được phân chia thành các đoạn gồm: Manh tràng và ruột thừa (trùng tràng); Đại tràng lên; Đại tràng ngang; Đại tràng xuống; Đại tràng sigma; Trực tràng và ống hậu môn. Thành ĐTT cấu tào gồm 4 lớp: Lớp thanh mạc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc. Hình ảnh giải phẫu đại trực tràng * Nguồn: Frank H. ĐTT được nuôi dưỡng bởi 2 nguồn là động mạch mạc treo tràng trên và động mạch mạc treo tràng dưới, các nhánh động mạch nối tiếp với nhau bởi các cung mạch.

Máu tĩnh mạch từ ĐTT đều chạy qua tĩnh mạch mạc treo tràng trên, tĩnh mạch mạc treo tràng dưới[9], [10], [11]. VAI TRÒ CỦA NỘI SOI VÀ NỒNG ĐỘ CEA HUYẾT TƯƠNG TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ ĐẠI TRỰC TRÀNG 1. Vai trò của nội soi đại trực tràng Năm 1898, Quenu thực hiện nội soi trực tràng ở Đức, năm 1919 Raoul Bensaude công bố giá trị của nội soi trực tràng. Đến năm 1946, ống soi cứng ra đời, năm 1953 cải tiến ống soi dài thêm tới 25cm với ánh sáng lạnh.

Năm 1957, Mutsugana1957 sử dụng ống soi mềm, đến năm 1966, tại Mỹ Overholt thực hiện soi đại tràng ống mềm vật kính. Đến những năm 80, ống nội soi mềm có gắn camera ra đời thay thế ống soi mềm vật kính cho phép nhiều người cùng đánh giá tổn thương một cách khách quan rõ ràng hơn và lưu lại được hình ảnh. Cho tới ngày nay có nhiều kỹ thuật nội soi đã phát triển, được thực hiện đó là hệ thống nội soi ánh sáng trắng (White light endoscopy), nội soi phóng đại, nội soi tăng cường màu sắc đa phổ linh hoạt (Flexible spectral Imaging colour enhancement - FICE), nội soi phóng đại có nhuộm màu, nội soi tế bào[12]. Do đó nội soi có thể chẩn đoán đến mức độ tế bào, đem lại giá trị vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh lý ĐTT, đặc biệt trong sàng lọc UTĐTT ở giai đoạn sớm [13].

Năm 2017, Corley và cộng sự (cs) nghiên cứu trên 70124 BN có kết quả xét nghiệm dương tính máu ẩn trong phân đã cho thấy có mối liên quan giữa thời gian kiểm tra nội soi ĐTT với nguy cơ ung thư ĐTT và giai đoạn bệnh UTĐTT. Trong đó, nguy cơ UTĐTT và giai đoạn bệnh tiến triển cao hơn đáng kể ở những trường hợp trì hoãn nội soi ĐTT trên 10 tháng sau khi có kết quả xét nghiệm máu ẩn trong phân dương tính và nguy cơ này còn cao hơn ở những bệnh nhân trì hoãn nội soi ĐTT trên 12 tháng kể từ khi có kết quả máu ẩn trong phân dương tính (OR = 2,25 cho nguy cơ mắc ung thư ĐTT và OR = 3,22 cho nguy cơ tiến triển ung thư ĐTT) [14]. Theo Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ, những người từ 45 tuổi trở lên được khuyến cao nên sàng lọc ung thư ĐTT bằng xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân hoặc các phương pháp thăm dò khác nhau, trong đó nội soi ĐTT được cho là 5 phương pháp tốt nhất để sàng lọc sớm UTĐTT [15]. Điều này cho thấy vai trò ngày nội soi ĐTT có vai trò quan trọng trong chẩn đoán sớm các bệnh lý ĐTT.

Nồng độ CEA trong chẩn đoán bệnh lý đại trực tràng Carcino Embryonic Antigen (CEA) là một glycoprotein chứa khoảng 60% carbohydrat và thấy trên màng tế bào của nhiều mô khác nhau. Năm 1966, Gold và Freedman, lần đầu tìm thấy CEA ở bệnh nhân UTĐTT và cho rằng CEA có mối liên quan đến ung thư biểu mô ĐTT [16], nhưng tăng không đặc hiệu trong UTĐTT. CEA huyết tương còn tăng cao trên các bệnh ung thư đường tiêu hóa khác như ung thư dạ dày, ung thư tụy. Trị số CEA huyết tương < 5 ng/ml là bình thường, nếu > 10 ng/ml thì được coi là bệnh lý.

Có khoảng 70% BN UTĐTT có mức CEA cao, nhưng ở những BN ung thư giai đoạn sớm (Dukes A) chỉ có dưới một nửa là có CEA dương tính. Các nghiên cứu trước cũng ghi nhận CEA có liên quan tới sự hiện diện của polyp ĐTT tân sinh, UTĐTT. Tiên lượng xấu khi CEA tăng cao, đặc biệt sau phẫu thuật cắt u nếu CEA không giảm xuống hoặc tăng dần theo thời gian đó là dấu hiệu tái phát hoặc di căn ở các vị trí khác [18], [19], [20], [21]. Nồng độ CEA cũng có mối liên quan đến sự tái phát của polyp ĐTT [22].

Trong nghiên cứu của Jing Tong (2015) ghi nhận nồng độ CEA cao hơn ở BN polyp ĐTT tái phát so với những BN không tái phát polyp ĐTT [23]. Mặc dù CEA huyết tương không đặc hiệu riêng cho các bệnh lý ĐTT, nhưng nó cũng có giá trị nhất định trong theo dõi tiên lượng, giúp các bác sĩ lâm sàng có thêm căn cứ và lựa chọn các phương chẩn đoán tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG 1. Đặc điểm nội soi polyp đại trực tràng Nội soi đại tràng là phương pháp chính xác để phát hiện và loại bỏ các tổn thương tiền căn, thông qua việc tầm soát và sàng lọc UTĐTT.

Nội soi đại tràng sẽ phân tích đặc điểm vị trí, số lượng, hình thái, kích thước, cấu trúc bề mặt và cấu trúc mạch máu của polyp [24]. 6 Nghiên cứu của Corley và cs (2104) đã ghi nhận trên 314.872 trường hợp nội soi ĐTT thấy tỷ lệ phát hiện polyp u tuyến trong khoảng 7,4 – 52,5% [25]. Polyp ĐTT được sử dụng để chỉ những khối phát triển lồi lên so với bề mặt niêm mạc ĐTT bình thường, polyp được coi là yếu tố nguy cơ báo trước của UTĐTT. Một số polyp ĐTT tích tụ đủ các đột biến dẫn đến các tế bào phát triển loạn sản và ung thư, cuối cùng là xâm nhập các tế bào loạn sản, ung thư xuống lớp dưới niêm mạc [4].

Về kích thước của polyp ĐTT: có mối liên quan tỷ lệ thuận giữa nguy cơ ung thư và kích thước polyp. Kích thước khối polyp từ 1 – 5mm thì nguy cơ phát triển thành ung thư rất thấp với tỷ lệ là 0-0,1%; kích thước polyp từ 6 – 9mm thì có nguy cơ ung thư trong khoảng 0 đến 0,4%; polyp có kích thước từ 10mm – 20mm có nguy cơ ung thư là 2,4%; trong khi đó, tỷ lệ này tăng lên đến 19,4% đối với khối polyp có kích thước trên 20mm [26]. Về hình thái các tổn thương polyp khi nội soi ĐTT được xác định dựa theo phân loại Paris chia thành 3 dạng gồm tổn thương lồi (loại 0-I), tổn thương phẳng (loại 0-II) và tổn thương loét (loại 0-III). Tổn thương lồi được phân chia thành 2 dạng hình thái bao gồm hình thái có cuống (0-Ip) là khi chiều cao của tổn thương gấp 2 lần chiều dầy của lớp niêm mạc; hình thái không cuống (0-Is) là những tổn thương có chiều rộng của đáy và chiều cao tổn thương là như nhau và tổn thương lồi lên trên so với niêm mạc xung quanh lớn hơn 2,5mm tương đương với cái mũ của kìm sinh thiết; bên cạnh đó có một tổn thương dạng bán cuống (0-Isp) thì quản lý như tổn thương không cuống (0-Is).

Tổn thương phẳng (0-II) bao gồm 3 hình thái như sau: phẳng gồ (0-IIa), phẳng dẹt (0-IIb) và phẳng lõm (0-IIc), các tổn thương phẳng là những tổn thương lồi lên hoặc lõm xuống nhỏ hơn 2,5mm (tương đương với cái mũ của kìm sinh thiết) so với niêm mạc xung quanh. Các tổn thương phẳng hoặc lõm thường hiếm gặp, đặc biệt là tổn thương dạng loét (0-III) và rất dễ bỏ sót khi nội soi đại tràng, trong khi đó, các tổn thương lồi cao thường gặp hơn. Trên nội soi thường hay gặp tổn thương dạng kết hợp như IIa +IIc và IIa + Is [27], [28], [29], [30]. 7 0-Ip 0-Is 0-IIa 0-IIb 0-IIc 0-III Hình 1.

Phân loại Paris hình thái polyp đại trực tràng * Nguồn: Shaukat (2020) [4]. Tổn thương phát triển theo chiều ngang (LST- Laterally speading tumor): Đây là một dạng đặc biệt của phân loại Paris, được mô tả khi các polyp ĐTT có kích thước lớn hơn 10mm, dạng phẳng (0-II) hoặc không cuống (0-Is) lan sang bên dọc theo thành đại tràng. Các tổn thương này được chia thành 2 kiểu hình riêng biệt gồm dạng hạt và dạng không hạt. Dạng hạt (LST-G: Laterally speading tumor – Granular type) có bề mặt nốt sần, căn cứ hình dạng nốt sần tổn tương LST-G được phân loại thành 2 dạng tiếp theo bao gồm các tổn thương với các nốt sần sùi đồng nhất và các tổn thương với các nốt có kích thước hỗn hợp.

Dạng không hạt (LST-NG: Laterally speading tumor – Nongranular type) là các tổn thương có bề mặt nhẵn, gồm các loại phẳng và giả polyp lõm [4]. Liên quan giữa phân loại LST và Paris polyp đại trực tràng Phân loại loại LST Liên quan phân loại Paris LST-NG Loại phẳng 0-IIa, 0-IIb Loại giả polyp lõm 0-IIa+IIc LST-G Loại đồng nhất 0-IIa Loại dạng nốt hỗn hợp 0-IIa, 0-IIa +Is Dự đoán khả năng ung thư hóa của các tổn thương LST không chỉ dựa vào kích thước mà còn căn cứ vào các cấu trúc hạt ở trên bề mặt LST, những tổn thương dạng không hạt có liên quan đến xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc. Trong khi đó, các tổn thương dạng không hạt biến đổi thành cứng và kích thước khối u lớn có sự xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc cao hơn ở tổn thương LST-NG [31]. 8 Những tổn thương LST-G nốt đồng nhất có xu hướng phát triển sang bên, đường kính lớn với nguy cơ dẫn đến xâm lấn dưới niêm mạc khoảng 2% cho bất cứ kích thước nào, trong khi đó các tổn thương LST-G nốt hỗn hợp có nguy cơ xâm lấn các tế bào ung thư xuống lớp dưới niêm mạc khoảng 7,1% cho tổn thương nhỏ hơn 20mm và 38% cho tổn thương lớn hơn 20mm [4], [32].

Các tổn thương LST-NG thể giả lõm có nguy cơ cao ung thư xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc: nguy cơ là 100% với kích thước từ 30 mm, với kích thước từ 20 đến 29mm nguy cơ ung thư khoảng 41,4%, so với kích thước 10- 19mm nguy cơ ung thư là 27,8%. Trong khi đó, những tổn thương LST-NG loại phẳng thì nguy cơ ung thư thấp hơn hẳn so với dạng LST-NG giả lõm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hình ảnh nội soi, mô bệnh học và đột biến gen KRAS BRAF trong polyp tuyến và ung thư đại trực tràng là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm nội soi, mô bệnh học và đột biến gen KRAS, BRAF trong polyp tuyến và ung thư đại trực tràng. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về mối liên hệ giữa các đột biến gen và sự phát triển của bệnh, giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và hướng điều trị hiệu quả. Đặc biệt, tài liệu này là nguồn tham khảo quý giá cho những ai quan tâm đến chẩn đoán và điều trị ung thư đại trực tràng.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng giữa và thấp, nghiên cứu này tập trung vào hiệu quả của phẫu thuật trong điều trị ung thư trực tràng. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan cung cấp thêm góc nhìn về kỹ thuật phẫu thuật hiện đại trong điều trị ung thư. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị dị vật đường thở bằng nội soi ống cứng trực tiếp là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về ứng dụng của nội soi trong y học.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp điều trị và nghiên cứu liên quan, giúp mở rộng kiến thức và ứng dụng thực tiễn.