ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của globocan 2012, ung thư trực tràng (UTTT) là một bệnh lý ác tính có tỷ lệ tử vong cao, xếp hàng thứ 3 về tỷ lệ mới mắc và nằm trong nhóm 5 bệnh ung thư gây tử vong phổ biến trên thế giới. Trên phạm vi toàn thế giới, năm 2012 có khoảng 1.602 trường hợp mới mắc và 693.933 trường hợp tử vong.Tại Bắc Mỹ, tỷ lệ mới mắc là 30,1/100. Tại Việt Nam, năm 2012, ung thư trực tràng chiếm vị trí thứ 5 trong các loại ung thư sau ung thư gan, ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư vú. Tỷ lệ mắc vào khoảng 10,1/100.
Ở Hà Nội, năm 2001-2004, theo Nguyễn Bá Đức và cộng sự, ở cả nam và nữ, ung thư trực tràng chiếm vị trí thứ 4 về mức độ phổ biến [9]. Tại Cần Thơ, theo kết quả trong giai đoạn 2006 - 2007 của Huỳnh Quyết Thắng và cộng sự, ở nam giới thì ung thư trực tràng chiếm vị trí thứ 3 sau ung thư dạ dày, ung thư gan và đứng vị trí thứ 3 ở nữ sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung. Còn nếu tính chung cả 2 giới thì ung thư trực tràng chiếm vị trí thứ 2 trong 10 loại ung thư phổ biến chỉ đứng sau ung thư vú [32]. Bệnh ung thư trực tràng có diễn tiến âm thầm, lâm sàng thường không rõ ràng, thực tế bệnh nhân chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn dẫn đến điều trị kém hiệu quả và tiên lượng xấu.
Tuy nhiên, việc ứng dụng các phương tiện chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm giúp cho tiên lượng của bệnh nhân ung thư trực tràng ngày càng khả quan hơn. Hiện nay, điều trị ung thư trực tràng là điều trị đa mô thức bao gồm phẫu trị, hoá trị và xạ trị. Trong đó, phẫu trị là một bước quan trọng trong quá trình điều trị. Ngày nay, phẫu thuật nội soi được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới trong việc điều trị ung thư trực tràng.
2 Đã có nhiều báo cáo về vấn đề này như: năm 2014, theo Mai Đình Điểu và cộng sự đã áp dụng phẫu thuật nội soi điều trị cho 164 bệnh nhân ung thư trực tràng, trong đó có 51 trường hợp (34,9%) phẫu thuật cắt đoạn trực tràng, 32 trường hợp (21,91%) phẫu thuật Pull through và 63 trường hợp (43,2%) phẫu thuật Miles cho kết quả sớm sau mổ rất khả quan với tỉ lệ tai biến, biến chứng nặng trong và sau mổ thấp [8]. Tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Cần Thơ có một số nghiên cứu về ung thư trực tràng. Tuy nhiên, ung thư trực tràng là một bệnh lý phức tạp với đặc điểm lâm sàng phong phú. Do đó chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ung thƣ trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2014- 2015” với 2 mục tiêu sau.
MỤC TIÊU TỔNG QUÁT: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị ung thư trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2014- 2015. MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh ung thư trực tràng. Kết quả điều trị ung thư trực tràng. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Dịch tễ học Ung thư trực tràng là bệnh thường gặp. Trên toàn thế giới, ung thư trực tràng đứng thứ ba về mức độ phổ biến ở nam giới (746.000 trường hợp, 10,0% của tổng số các ung thư khác) và đứng thứ hai ở nữ giới (614.000 trường hợp, 9,2% của tổng số). Hơn 55% các trường hợp xảy ra ở các nước phát triển. Có sự khác biệt về địa lý trong tỷ lệ mắc bệnh của nam và nữ trên toàn thế giới.
Tỷ lệ cao nhất ở Úc / New Zealand (tỷ lệ mắc bệnh là 44,8/100.000), và thấp nhất ở Tây Phi (4,5/100. Tại Việt Nam, năm 2012, ung thư trực tràng chiếm vị trí thứ 5 trong các loại ung thư sau ung thư gan, ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư vú. Tỷ lệ mắc vào khoảng 10,1/100. Độ tuổi thường gặp là 40 -60 tuổi [4].
Tỷ lệ mắc ung thư trực tràng ở một số khu vực năm 2012: [42] New Zealand 32,2/100. Đặc điểm giải phẫu trực tràng Trực tràng (TT) là phần cuối cùng của ống tiêu hóa nối tiếp đại tràng sigma và đi từ đốt sống thứ 3 đến hậu môn. Trực tràng nằm rất sâu, sát xương cùng và xương cụt. Trực tràng dài 12 – 15 cm, đường kính ngang trực tràng 3- 6 cm, đường kính trước sau là 1,5 – 2 cm, trực tràng có 2 đoạn: 4 Đoạn trên phình to để chứa phân gọi là bóng trực tràng nằm trong chậu hông bé, dài 10 – 12 cm.
Đoạn dưới hẹp và ngắn gọi là ống hậu môn có chức năng giữ phân và tháo phân ra ngoài, dài 3 – 4 cm. Giải phẫu trực tràng và ống hậu môn (Nguồn Atlats giải phẫu người, 2007 [29]) Trực tràng có 2 cách chia: Chia 2 phần: đoạn trực tràng nằm trong ổ bụng và đoạn trực tràng nằm ngoài ổ bụng, chia 2 phần bởi nếp phúc mạc chậu. Ở nam, nếp phúc mạc thường cách bờ hậu môn 7 – 9 cm, còn ở nữ khoảng cách này 5 – 7,5 cm. Chia 3 phần: 1/3 trên trực tràng có phúc mạc phủ lên mặt trước và mặt bên, 1/3 giữa có phúc mạc phủ mặt trước, 1/3 dưới không có phúc mạc che phủ, nằm ngoài khoang phúc mạc [30].
Liên quan của bóng trực tràng Mặt trước: liên quan với các tạng niệu sinh dục. Ở nam: liên quan với mặt sau bàng quang, cân Demonvilliers, ống dẫn tinh và niệu đạo. Ở nữ: liên quan mặt sau tử cung, túi cùng âm đạo, thành sau âm đạo. Mặt sau: liên quan với xương cùng cụt và các thành phần trước xương: chỗ bám cơ tháp, động mạch cùng giữa từ mặt sau động mạch chủ bụng, các động mạch cùng bên từ động mạch hạ vị, những tĩnh mạch ở trước lỗ xương cùng, đám rối thần kinh cùng 4, 5, đám rối giao cảm cùng với chuỗi hạch.
Tất cả tạo thành một mảng trước xương cùng. Mặt bên: liên quan với thành chậu hông, các mạch máu chậu trong, niệu quản, động mạch và thần kinh bịt [16]. Mạc treo trực tràng Hình 1. Mạc treo trực tràng [43] Mạc treo trực tràng là phần tiếp nối của mạc treo kết tràng chậu hông từ trên xuống, gồm các cấu trúc mỡ bao quanh trực tràng.
Trong lớp mỡ này có các bạch huyết của trực tràng và các động tĩnh mạch trực tràng trên và giữa. 6 Bên ngoài lớp mỡ này có một lớp màng mỏng bao quanh gọi là mạc quanh trực tràng hay còn gọi là cân riêng trực tràng, có những lỗ thủng để động mạch trực tràng giữa và thần kinh trực tràng chui qua. Mạc treo trực tràng 1/3 trên: phẫu thuật cắt mạc treo trực tràng ít quan trọng vì ung thư ở vùng này di căn tương tự ung thư đại tràng và tỷ lệ tái phát tại chỗ thấp. Ở đoạn trực tràng trên, khi mạc treo đại tràng chậu hông ngắn lại và biến mất, mạc treo trực tràng có hình bán nguyệt trên lát cắt ngang.
Mạc treo trực tràng 1/3 giữa: 4 phần sau, trước, phải và trái rất phát triển. Ở đoạn trực tràng giữa, ngay dưới nếp phúc mạc (ngang mức túi tinh hoặc phần trên âm đạo) mạc treo trực tràng có dạng gần hình tròn trên lát cắt ngang với bóng trực tràng lệch tâm về phía trước (hình 1. Mạc treo trực tràng 1/3 dưới: xuống đoạn trực tràng thấp, vào khoảng giữa hai cơ nâng hậu môn, mạc treo trực tràng mỏng dần và biến mất ở chỗ nối với ống hậu môn (Hình 1. Topor và cộng sự nhận thấy ở mạc treo trực tràng 1/3 dưới rất hiếm khi có hạch vì thế có thể giải thích các phẫu thuật giữ cơ thắt không làm tăng tỷ lệ tái phát tại chỗ.
Khi cắt trọn mạc treo trực tràng thì kết quả đạt về mặt ung thư học [43]. Thiết đồ cắt dọc vùng trực tràng và hậu môn [43]. Động mạch Hình 1. Các động mạch của trực tràng và ống hậu môn (Nguồn Atlats giải phẫu người, 2007 [29]) Trực tràng được nuôi dưỡng bởi ba động mạch: động mạch trực tràng trên, động mạch trực tràng giữa, động mạch trực tràng dưới.
Động mạch trực tràng trên: là nhánh tận của động mạch mạc treo tràng dưới, ngay đoạn xương cùng thứ 3 (S3), chia 2 nhánh phải và trái. Đây là động mạch cấp máu chủ yếu cho trực tràng. Động mạch trực tràng giữa: xuất phát từ động mạch chậu trong, cấp máu cho phần dưới bóng trực tràng và phần trên ống hậu môn Động mạch trực tràng dưới: xuất phát từ động mạch thẹn trong, nhánh của động mạch chậu trong, phân nhánh cho hố ngồi trực tràng, ống hậu môn, các cơ vòng, da vùng hậu môn. 8 Động mạch cùng giữa: xuất phát từ mặt sau động mạch chủ bụng, trên chỗ chia đôi 2 động mạch chậu 1,5cm, cấp máu cho phần thấp trực tràng, xương cùng và xương cụt [48].
Tĩnh mạch Hình 1. Các tĩnh mạch của trực tràng và ống hậu môn. Máu từ trực tràng và ống hậu môn về tim theo 2 hệ thống cửa và chủ. Tĩnh mạch trực tràng trên: từ đám rối của thành trực tràng, tĩnh mạch trực tràng trên đi trước động mạch và đổ về hệ thống tĩnh mạch cửa qua tĩnh mạch mạc treo tràng dưới.
Tĩnh mạch trực tràng giữa: từ đám rối tĩnh mạch ở phần thấp trực tràng và phần trên ống hậu môn, các tĩnh mạch của túi tinh (ở nam), tử cung, âm đạo (ở nữ). Tĩnh mạch trực tràng giữa đổ về hệ thống chủ qua tĩnh mạch chậu trong. 9 Tĩnh mạch trực tràng dưới: từ đám rối tĩnh mạch ở phần thấp của ống hậu môn, các tĩnh mạch chung quanh cơ vòng hậu môn. Tĩnh mạch trực tràng dưới qua hố ngồi trực tràng đổ vào tĩnh mạch thẹn trong là nhánh của tĩnh mạch chậu trong thuộc hệ chủ [48].
Hệ bạch huyết Hình 1. Hệ thống mạch bạch huyết trực tràng [48] Bạch huyết từ 1/3 trên và 1/3 giữa trực tràng được đổ vào các hạch mạc treo trực tràng dưới. Bạch huyết từ 1/3 dưới của trực tràng có thể đổ vào hệ thống mạc treo trực tràng dưới hoặc đổ vào mạng lưới bạch mạch chạy dọc theo động mạch trực tràng giữa và động mạch trực tràng dưới, chảy ra phía sau dọc theo động mạch xương cùng giữa và xuyên ra trước thông qua các rãnh bàng quang - trực tràng hoặc vách trực tràng - âm đạo, sau đó đến các hạch chậu và cuối cùng, đến các hạch dọc theo động mạch chủ.