CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm cơ bản về ung thư Ung thư Là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng nhìn chung có khoảng 200 loại ung thư [5], [9], [10], [11]. Bệnh ung thư - bệnh của tế bào Nếu hệ thống điều khiển sự nhân lên của tế bào bị hỏng, tế bào sẽ nhân lên vô hạn tựa như không có kế hoạch hoá gia đình làm dân số tăng lên.
Nếu hệ thống điều khiển sự chuyên biệt hoá của tế bào và hệ thống sửa chữa những sai lạc bị hỏng sẽ sinh ra những tế bào quái lạ, không có những chức năng cần thiết và có thể gây hại cho cơ thể. Hai hiện tượng sai lạc này tựa như không giáo dục hoặc giáo dục sai lạc, con người trở thành vô giá trị hoặc thành những kẻ phá hoại trong xã hội [10]. Có thể định nghĩa bệnh ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, trong đó các tế bào bị biến đổi, tăng sinh vô hạn không chịu sự kiểm soát của cơ thể [9], [11]. Quá trình phát triển bệnh ung thư Trong suốt cuộc đời con người thường có sai lạc và có sự sửa chữa.
Trong quá trình phát triển và duy trì cuộc sống, đôi khi có các tế bào bị biến đổi do nhiều yếu tố khác nhau từ ngoại cảnh hoặc ngay trong bản thân cơ thể. Sự biến đổi tế bào có thể từ nhẹ đến nặng theo nhiều mức độ khác nhau. Nếu biến đổi ở mức nhẹ, cơ thể sẽ sửa chữa những hỏng hóc nhỏ này. Nếu biến đổi nặng hơn có thể đến mức ác tính, cơ thể không sửa chữa được sẽ bỏ tế bào này đi và thay thế bằng các tế bào khác.
Tuy vậy, trong một thời điểm nào đó, hệ thống sửa chữa này bị yếu đi hoặc “lơ là mất cảnh giác”, các tế bào bị biến đổi có thời cơ tồn tại và nhân lên đến số lượng quá lớn không thể tiêu diệt được nữa. Lúc này cho dù cơ thể huy động mọi lực lượng bảo vệ cũng không xuể. Đồng thời, hệ thống điều hoà phát triển, hệ thống điều hoà biệt hoá trở 5 nên vô dụng đối với “đội quân” này. Đây là mốc quan trọng, khởi phát bệnh ung thư sau này.
Ở giai đoạn tiếp theo, “đội quân” tế bào ác tính sẽ nhân lên, bành trướng ra xung quanh, số lượng tăng lên từ khoảng 1.000 tế bào lên 1. Với số lượng tế bào như vậy, tuy đã tạo thành khối u nhưng cũng còn rất nhỏ để có thể phát hiện bằng các phương tiện hiện nay. Tất cả quá trình nói trên chiếm tới 75% thời gian phát triển của bệnh ung thư, trung bình 15-20 năm. Một số ít ung thư có quá trình này ngắn hơn nhưng cũng có loại có thời gian dài hơn.
Tiếp theo, khối u ác tính xâm lấn vào vùng xung quanh do các tế bào ung thư có khả năng di động dễ dàng và khối u có khả năng làm tiêu đạm vùng xung quang làm cho vùng này lỏng lẻo hơn. Trong khi khối u ác tính phát triển, một hoặc nhiều tế bào ung thư có khả năng tách ra, di chuyển đến vị trí mới cách xa khối u cũ và tiếp tục phát triển thành một ổ mới gọi là ổ di căn hay vị trí di căn. Còn vị trí hình thành bệnh được người ta gọi là u nguyên phát. Ổ di căn này có những đặc điểm giống hệt những đặc điểm của u ban đầu và các ổ di căn khác.
Tế bào ung thư có thể di căn theo các cách sau: Tế bào ung thư đi vào trong mạch máu, tự trôi theo dòng máu, mắc lại ở một nơi nào đó (thường ở các mạch máu nhỏ) và sinh sôi, tăng trưởng ở đó. Phổi và gan là những nơi có mạng lưới mạch máu dày đặc nên tế bào ung thư hay mắc ở đó nên là những nơi hay gặp di căn nhất.Trên đường đi tới “miền đất mới”, có nhiều tế bào bị chết dọc đường. Vì vậy, để có ổ di căn mới, phải cần rất nhiều tế bào tách ra khỏi khối u. Con đường thứ hai là bạch huyết.
Hệ bạch huyết là một mạng lưới gồm các ống chia nhánh giống như mạch máu, toả khắp cơ thể, gọi là bạch mạch có chất dịch gần như trong suốt lưu thông ở trong, có nhiệm vụ chính bảo vệ cơ thể. Dọc đường đi của bạch mạch có các hạch bạch huyết nhỏ hình hạt đậu. Tế bào ung thư sau khi tách khỏi u nguyên phát có thể xâm nhập vào mạng lưới bạch mạch rồi mắc lại ở các hạch bạch huyết. 6 Ung thư có thể di căn theo các lối đi ít bị cản trở vào các hốc, ống trong cơ thể.
Ví dụ ung thư dạ dày sau khi xâm lấn qua thành dạ dày, các tế bào có thể bong ra, rơi vào trong ổ bụng gây di căn ở buồng trứng. Ung thư cũng có thể di căn do kỹ thuật mổ không đúng. Một con dao mổ cắt ngang qua khối u, dính đầy tế bào ung thư nếu để chạm vào các mô lành sẽ cấy các tế bào vào các mô đó [9], [11] Hậu quả của ung thư đối với cơ thể Tại vị trí nguyên phát, nếu không điều trị ngăn chặn kịp thời, khối u phát triển làm phá huỷ mô lành xung quanh, làm hỏng các chức năng và gây đau đớn. Điều đáng nói là ung thư rất hay di căn vào các cơ quan quan trọng của cơ thể làm hỏng các cơ quan này và là nguyên nhân chủ yếu làm người bệnh tử vong.
Các tế bào ung thư sinh ra những độc tố hoặc các chất nội tiết không cần thiết gây rối loạn chuyển hoá, làm cơ thể mệt mỏi, chán ăn. Ung thư cũng gây trục trặc hệ thống miễn dịch, khả năng chống các bệnh nhiễm trùng giảm. Ung thư gây mất cân bằng dinh dưỡng làm cơ thể suy mòn và cuối cùng dẫn đến tử vong [9], [11]. Xếp loại giai đoạn bệnh dựa vào hệ thống TNM [9]: Hệ thống TNM là một trong những hệ thống giai đoạn của ung thư được sử dụng rộng rãi nhất.
Hệ thống này được chấp nhận bởi Hiệp hội kiểm soát ung thư quốc tế (UICC - Union for International Cancer Control) và Ủy ban Ung Thư Hoa Kỳ (AJCC - American Joint Committee on Cancer). Hầu hết các chương trình y khoa đều dùng hệ thống này làm phương pháp chính để báo cáo về ung thư. Hệ thống TNM dựa vào phạm vi lan rộng của khối u (T - Tumor), phạm vi ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết (N - Node), và sự hiện diện của các di căn xa (M - Metastasis). Con số được thêm vào phía sau mỗi chữ cái xác định kích thước hoặc phạm vi của khối u và di căn.
- Khối u nguyên phát (Primary Tumor) ✓ Tx: không đánh giá được khối u nguyên phát ✓ T0: không có bằng chứng về sự hiện diện của khối u nguyên phát ✓ Tis: Carcinoma in situ (CIS - ung thư tại chỗ): có sự hiện diện của các tế bào bất thường nhưng chúng không lan sang các mô lân cận, mặc dù không phải 7 là ung thư nhưng CIS có thể trở thành ung thư và đôi khi nó được gọi là ung thư giai đoạn tiền xâm lấn. ✓ T1, T2, T3, T4: kích thước và/hoặc phạm vi của khối u nguyên phát. - Hạch vùng (Regional Lymph Nodes) ✓ Nx: không đánh giá được hạch vùng ✓ N0: không có hạch vùng liên quan ✓ N1, N2, N3: có hạch vùng liên quan (số lượng hạch bạch huyết và/hoặc phạm vi liên quan) - Di căn xa (Distant Metastasis): ✓ Mx: không thể đánh giá được di căn xa ✓ M0: không có di căn xa ✓ M1: có di căn xa Ví dụ như một trường hợp ung thư vú được xếp loại là T3N2M0 có nghĩa là một khối u lớn đã lan ra ngoài vú đến các hạch bạch huyết lân cận nhưng không lan đến những vùng khác của cơ thể. Ung thư tiền liện tuyến được xếp loại là T1N0M0 có nghĩa là khối u chỉ nằm khu trú bên trong tiền liệt tuyến và không lan đến các hạch bạch huyết cũng như những vùng khác của cơ thể.
Ở nhiều loại ung thư, các cách phối hợp TNM này tương ứng với một trong 5 giai đoạn. Các loại ung thư khác nhau có những tiêu chuẩn phân giai đoạn khác nhau. Ví dụ như ung thư bàng quang T3N0M0 được xếp vào giai đoạn III trong khi đó ung thư đại tràng T3N0M0 chỉ ở giai đoạn II. - Giai đoạn 0: Carcinoma in situ (ung thư tại chỗ) - Giai đoạn I, II, và III: con số càng cao chỉ mức độ xâm lấn càng nhiều của bệnh: khối u càng lớn và/hoặc mức độ lan rộng của ung thư ra khỏi cơ quan ban đầu đến những hạch bạch huyết và/hoặc những cơ quan kế cận từ vị trí của khối u nguyên phát.
- Giai đoạn IV: ung thư lan đến những cơ quan khác. Định nghĩa Ghi nhận ung thư và vai trò ghi nhận ung thư 1. Định nghĩa ghi nhận ung thư Ghi nhận Ung thư là quá trình thu thập một cách có hệ thống và liên tục số liệu về tình hình mắc và đặc điểm của những loại ung thư được ghi nhận [21], [46]. Một cơ sở GNUT là cơ quan làm nhiệm vụ thu thập, lưu trữ, phân tích và lý giải số liệu về những ca ung thư [21], [46].
Các loại hình ghi nhận Có hai loại hình ghi nhận chính: - Ghi nhận bệnh viện: Thống kê tất cả các ca UT điều trị trong một bệnh viện với mục đích đánh giá các hoạt động của bệnh viện và công tác chẩn đoán điều trị bệnh nhân UT trong bệnh viện đó [21], [46]. - Ghi nhận quần thể: Thống kê tất cả các ca UT xuất hiện ở một quần thể xác định trong một khoảng thời gian xác định với mục đích chính là xác định tỷ lệ mắc trong quần thể đó. - Các điểm khác nhau cơ bản của hai loại hình ghi nhận chính [21] 9 Bảng 1.