Tài liệu: Đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm theo thang điểm framingham trên

Nghiên cứu đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch trong 10 năm theo thang điểm Framingham trên cán bộ Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2016-2017.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Bác sĩ đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Về Nguy Cơ Tim Mạch 10 Năm

Nguy cơ tim mạch 10 năm là một chỉ số quan trọng trong đánh giá sức khỏe tim mạch của mỗi cá nhân. Đây là xác suất mắc bệnh tim mạch trong vòng 10 năm tới dựa trên các yếu tố nguy cơ hiện tại. Thang điểm Framingham được phát triển từ nghiên cứu Framingham nổi tiếng, một trong những nghiên cứu dài hạn lâu nhất về bệnh tim mạch. Công cụ này giúp các bác sĩ và người dân nhận thức được mức độ nguy cơ tim mạch của họ, từ đó có thể đưa ra các quyết định phòng ngừa và điều trị phù hợp. Việc đánh giá sớm điểm nguy cơ tim mạch có thể giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và biến chứng nguy hiểm.

1.1. Định Nghĩa Và Tầm Quan Trọng

Nguy cơ tim mạch 10 năm được định nghĩa là khả năng mắc bệnh tim mạch trong một thập kỷ. Đây là một công cụ lâm sàng hữu ích giúp đánh giá nguy cơ tim mạch ở mỗi cá nhân. Thang điểm này dựa trên các yếu tố nguy cơ chính như tuổi, giới tính, huyết áp, cholesterol và tình trạng hút thuốc. Tầm quan trọng của thang điểm Framingham nằm ở khả năng phát hiện sớm những người có nguy cơ cao, cho phép can thiệp kịp thời.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Thang Điểm Framingham

Nghiên cứu Framingham bắt đầu từ năm 1948 ở thị trấn Framingham, Massachusetts, Hoa Kỳ. Đây là công trình nghiên cứu dài hạn về bệnh tim mạch với hàng ngàn đối tượng tham gia. Qua nhiều thập kỷ, các nhà khoa học đã phát triển thang điểm Framingham để đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm dựa trên dữ liệu khoa học vững chắc. Công cụ này đã được kiểm chứng và áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới.

II. Các Yếu Tố Nguy Cơ Trong Thang Điểm

Thang điểm Framingham đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm dựa trên nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau. Những yếu tố này được chia thành hai nhóm: những yếu tố không thể thay đổi và những yếu tố có thể can thiệp. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm tuổi, giới tính, huyết áp tâm thu (HATT), cholesterol máu, HDL-cholesterol và tình trạng hút thuốc. Mỗi yếu tố đóng góp một số điểm nhất định vào điểm nguy cơ tim mạch tổng thể. Sự phối hợp của các yếu tố nguy cơ này tăng lên theo cấp số nhân, làm gia tăng mức độ nguy cơ tim mạch.

2.1. Yếu Tố Nguy Cơ Không Thể Thay Đổi

Tuổi tác và giới tính là yếu tố nguy cơ chủ yếu mà không thể thay đổi. Nam giới thường có nguy cơ tim mạch 10 năm cao hơn phụ nữ ở cùng độ tuổi. Thang điểm Framingham sử dụng những dữ liệu này để tính toán điểm nguy cơ tim mạch cơ bản. Một người càng cao tuổi, mức độ nguy cơ tim mạch càng tăng đáng kể. Việc nhận thức được những yếu tố nguy cơ này giúp can thiệp vào các yếu tố có thể điều chỉnh được.

2.2. Yếu Tố Nguy Cơ Có Thể Điều Chỉnh

Huyết áp, cholesterol máu và tình trạng hút thuốc là yếu tố nguy cơ có thể can thiệp. Kiểm soát huyết áp tâm thu và HDL-cholesterol đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ tim mạch 10 năm. Bỏ hút thuốc, chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục đều giúp cải thiện điểm nguy cơ tim mạch. Thang điểm Framingham khuyến nghị theo dõi và điều chỉnh những yếu tố nguy cơ này để đánh giá nguy cơ tim mạch hiệu quả hơn.

III. Phương Pháp Tính Điểm Nguy Cơ Framingham

Phương pháp tính điểm theo thang điểm Framingham là một quy trình khoa học được chuẩn hóa. Mỗi yếu tố nguy cơ được gán một giá trị số cụ thể dựa trên kết quả của nghiên cứu Framingham. Điểm nguy cơ tim mạch được tính bằng cách cộng tổng các điểm từ từng yếu tố. Sau đó, điểm tổng này được chuyển đổi thành mức độ nguy cơ tim mạch 10 năm dưới dạng phần trăm. Thang điểm Framingham cung cấp một cách tiêu chuẩn và dễ sử dụng để đánh giá nguy cơ tim mạch ở bất kỳ cá nhân nào. Quá trình này đã được kiểm chứng lâm sàng và được sử dụng rộng rãi trong thực hành y tế.

3.1. Các Bước Tính Toán Chi Tiết

Bước đầu tiên là thu thập thông tin về tuổi, giới tính, huyết áp và cholesterol máu. Tiếp theo, xác định yếu tố nguy cơ từng bệnh nhân có. Mỗi yếu tố được gán điểm tương ứng theo bảng thang điểm Framingham. Cộng tất cả điểm lại để được điểm nguy cơ tim mạch thô. Cuối cùng, sử dụng công thức chuyển đổi để tính nguy cơ tim mạch 10 năm dưới dạng phần trăm. Quy trình này đảm bảo tính chính xác và nhất quán.

3.2. Giải Thích Kết Quả Điểm Số

Kết quả nguy cơ tim mạch 10 năm được chia thành ba mức: nguy cơ thấp (dưới 10%), nguy cơ trung bình (10-20%) và nguy cơ cao (trên 20%). Mức độ nguy cơ tim mạch này giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị phù hợp. Những bệnh nhân có nguy cơ cao cần can thiệp y tế tích cực và theo dõi sôi sổi. Thang điểm Framingham giúp đánh giá nguy cơ tim mạch một cách khoa học và hiệu quả.

IV. Ứng Dụng Lâm Sàng Và Phòng Ngừa

Thang điểm Framingham được ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng trên toàn thế giới, bao gồm Việt Nam. Công cụ này giúp bác sĩ đánh giá nguy cơ tim mạch để đưa ra các quyết định điều trị và can thiệp phòng ngừa. Những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch 10 năm cao cần theo dõi sâu sắc hơn và có thể cần dùng thuốc phòng ngừa. Nghiên cứu Framingham cũng chỉ ra rằng kiểm soát yếu tố nguy cơ có thể giảm đáng kể mức độ nguy cơ tim mạch. Việc áp dụng thang điểm này trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng giúp phòng chống bệnh tim mạch hiệu quả.

4.1. Ứng Dụng Trong Chẩn Đoán Và Theo Dõi

Thang điểm Framingham được sử dụng để đánh giá nguy cơ tim mạch lần đầu và theo dõi tiến triển theo thời gian. Bệnh nhân được tái tính điểm nguy cơ định kỳ để đánh giá hiệu quả can thiệp. Mức độ nguy cơ tim mạch giúp xác định những bệnh nhân cần kiểm tra tim mạch sâu hơn. Công cụ này không thay thế các xét nghiệm khác mà bổ sung thông tin quan trọng. Thang điểm hỗ trợ quyết định lâm sàng và cải thiện kết quả điều trị.

4.2. Chiến Lược Phòng Ngừa Bệnh Tim Mạch

Dựa vào nguy cơ tim mạch 10 năm, bác sĩ lên kế hoạch phòng ngừa cá nhân hóa cho từng bệnh nhân. Những người có mức độ nguy cơ cao cần thay đổi lối sống mạnh mẽ như bỏ hút thuốc, ăn uống lành mạnh, tập thể dục và kiểm soát cân nặng. Các thuốc phòng ngừa có thể được kê đơn để giảm yếu tố nguy cơ như huyết áp và cholesterol. Đánh giá nguy cơ tim mạch định kỳ giúp điều chỉnh chiến lược phòng ngừa và cải thiện sức khỏe tổng thể.

19/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Bệnh tim mạch Bệnh tim mạch (BTM) là một nhóm bệnh lý rối loạn tim và mạch máu bao gồm: - Các bệnh do xơ vữa mạch và huyết khối: Bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não, bệnh động mạch chủ, tăng huyết áp và bệnh mạch máu ngoại biên. - Các bệnh tim mạch khác như: Bệnh tim thấp khớp, bệnh tim bẩm sinh, bệnh về rối loạn nhịp tim [13]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization- 1 WHO), BTM là nguyên nhân của số ca tử vong toàn cầu, trong đó 85% là đột qụy 3 và nhồi máu cơ tim, tức là các bệnh lý tim mạch do nguyên nhân xơ vữa [13].

Tại Mỹ, ước tính cứ 38 giây thì sẽ có một người chết vì bệnh tim mạch [27]. Tại Việt Nam, công bố thống kê của WHO thống kê năm 2014, 33% số ca tử vong trên toàn quốc có nguyên nhân là BTM, cao gấp 10 lần nguyên nhân do đái tháo đường và gấp 3 lần nguyên nhân do chấn thương [16]. Những số liệu trên chứng tỏ mức độ nghiêm trọng của bệnh tim mạch. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trên thế giới thấy rằng: Phần lớn yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh tim mạch là có thể thay đổi được như: đái tháo đường, mỡ máu, thừa cân béo phì, hút thuốc lá, lối sống ít vận động [22].

Nghiên cứu tiến cứu kéo dài 20 năm của Chomistek trên phụ nữ trẻ ở Mỹ là bằng chứng rõ ràng về mối liên quan giữa lối sống, tập thể dục, chế độ ăn tới nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Những đối tượng có lối sống lành mạnh, không hút thuốc, tập thế dục thường xuyên 2,5 giờ/tuần, chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index-BMI) bình thường có nguy cơ tim mạch thấp hơn rõ rệt so với nhóm còn lại [38]. Trong thống kê của Hội tim mạch Hoa Kỳ thì bệnh mạch vành, đột quỵ, suy tim, tăng huyết áp là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong với tỉ lệ lần lượt là 43,8%, 16,8%, 9%, 9,4% [27]. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi sẽ trình bày về bệnh mạch vành, suy tim, đột qụy (Nhồi máu não, xuất huyết não), bệnh mạch máu ngoại biên.

Đây là những kết cục dự báo của thang điểm dự báo nguy cơ tim mạch 10 năm Framingham mà chúng tôi áp dụng trong nghiên cứu. Bệnh mạch vành Bệnh mạch vành (BMV) hay còn gọi là bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ là tình trạng mạch vành không còn đủ khả năng cung cấp oxy và chất dinh dưỡng để nuôi cơ tim. Bệnh bao gồm: Đau thắt ngực ổn định, hội chứng vành cấp (Đau thắt ngực Danh.2017 không ổn định, nhồi máu cơ tim ST chênh lên và nhồi máu cơ tim ST không chênh lên) [50]. Nguyên nhân thường gặp nhất của BMV là do những mảng xơ vữa tiến triển có thể làm hẹp lòng mạch hoặc bong ra và hình thành cục huyết khối làm lấp tắc 1 phần hoặc hoàn toàn lòng mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim cấp.

Bệnh nhân có thể đến viện với triệu chứng đau ngực đơn thuần hoặc nặng hơn là rối loạn nhịp tim, suy tim cấp, thậm chí sốc tim, đột tử, ngừng tuần hoàn ngoại viện. Theo thống kê năm 2016 của Hội tim mạch Hoa Kỳ, có tới 15,5 triệu người trong độ tuổi lớn hơn 20 mắc BMV và tỷ lệ số người mắc tăng dần theo tuổi ở cả nam và nữ. Ước tính rằng cứ 42 giây qua đi sẽ có 1 người Mỹ phải chịu một cơn đau thắt ngực [73]. Tuy nhiên, nghiên cứu Framingham đã chỉ ra các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh chủ yếu là các yếu tố có thể thay đổi được như: thuốc lá, mỡ máu, các bệnh rối loạn chuyển hóa [91].

Chính vì thế, việc cải thiện lối sống lành mạnh, hạn chế thực phẩm giàu lipid, phòng và điều trị tích cực các bệnh rối loạn chuyển hóa giúp cải thiện đáng kể nguy cơ mắc và giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng. Bệnh mạch máu ngoại biên Bệnh động mạch ngoại biên (Các mạch máu trừ mạch máu não và mạch vành) là tình trạng giảm hoặc mất tưới máu vùng mô tương ứng do mảng xơ vữa hoặc huyết khối gây hẹp hoặc bít tắc lòng mạch. Bệnh hay gặp nhất ở chi dưới. Bệnh diễn biến âm thầm hoặc có thể đột ngột dẫn đến thiếu máu cấp tính gây hoại tử và nếu không xử trí kịp thời sẽ phải cắt cụt chi.

Nguyên nhân của bệnh mạch máu ngoại biên cũng tương tự như bệnh mạch vành. Hậu quả nghiêm trọng mà bệnh gây ra có thể là cắt cụt chi hoặc thậm chí tử vong. Đột quỵ Theo WHO, đột quỵ là do sự gián đoạn của nguồn cung cấp máu đến não, thường là do một mạch máu bị vỡ hoặc bị tắc nghẽn bởi cục máu đông. Điều này cắt đứt nguồn cung cấp oxy và chất dinh dưỡng, gây tổn hại cho tế bào não.

Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng khuyết tật mắc phải ở người trưởng thành trên thế giới và là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tử vong ở các nước đang phát triển [16]. Số ca tử vong do đột quỵ chủ yếu đến từ các nước có thu nhập thấp, trung bình và đã tăng gấp đôi trong vòng 20 năm, trong khi đó ở các nước thu nhập cao, tỷ lệ đột quỵ đã giảm 42 % [44]. Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ cũng tương tự như bệnh mạch vành và bệnh mạch máu khác. Các chiến lược phòng ngừa hiệu quả bao gồm việc tập trung vào các yếu tố chính có thể thay đổi như: tăng huyết áp, tăng lipid và tiểu đường.2017 yếu tố về lối sống cũng có thể được giải quyết: hút thuốc lá, mức độ hoạt động thể chất thấp, chế độ ăn uống không lành mạnh và béo phì.

Suy tim Suy tim là một hội chứng lâm sàng gây ra bởi các khuyết tật về cấu trúc và chức năng trong cơ tim dẫn đến suy giảm sự đổ đầy của tâm thất hoặc công suất tống máu. Rối loạn chức năng của màng ngoài tim, van tim hoặc mạch máu lớn đơn độc hoặc kết hợp cũng liên quan đến suy tim. Một số cơ chế thường gặp như tình trạng quá tải huyết động, rối loạn chức năng liên quan đến thiếu máu cục bộ, tái cấu trúc cơ tim, kích thích thần kinh, thể dịch quá mức, bất thường trong chu trình chuyển hóa calci hoặc tăng quá trình chết theo chương trình và đột biến di truyền [41]. Suy tim đã được xác định là vấn đề toàn cầu, vì nó ảnh hưởng đến khoảng 26 triệu người trên toàn thế giới [81].

Năm 2016, có khoảng 5,7 triệu người ở Mỹ mắc suy tim, và dự kiến đến năm 2030 con số này là hơn 8 triệu người, tăng 46% [73]. Ở Đông Nam Á, có tới 9 triệu người mắc bệnh này với tỷ lệ là 6,7% ở Malaysia và 4,5% ở Singapore [18]. Suy tim không chỉ là gánh nặng của xã hội mà bệnh còn gây giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nặng nề hơn cả các bệnh mạn tính như bệnh viêm khớp, bệnh phổi mạn tính [53]. Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch Năm 1976, từ những kết quả thu được của dự án nghiên cứu Framingham tiến hành trên hơn 10.000 người, các nhà khoa học lần đầu xác định yếu tố nguy cơ (YTNC) dẫn đến hình thành bệnh tim mạch, những yếu tố này không tác động riêng lẻ mà phối hợp với nhau làm tăng nguy cơ xuất hiện bệnh [66].

Có 2 nhóm yếu tố nguy cơ gồm: nhóm yếu tố không thể thay đổi được (Tuổi, giới tính, tiền sử gia đình, chủng tộc) và nhóm yếu tố có thể thay đổi được (Đái tháo đường, hút thuốc lá, rối loạn mỡ máu, thừa cân béo phì, huyết áp cao). Phần lớn mô hình dự báo nguy cơ tim mạch trên thế giới như FRAMINGHAM, SCORE, QRISK sử dụng các biến số như tuổi, giới, cholesterol, HDL, huyết áp tâm thu, tình trạng hút thuốc lá, tình trạng đái tháo đường để tính điểm nguy cơ tim mạch cho từng đối tượng [40]. Một số yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được 1. Tuổi Chúng ta biết rằng quá trình lão hóa tăng dần theo tuổi.

Sự lão hóa xảy ra trên tất cả hệ cơ quan trong đó có hệ thống tim mạch. Hậu quả là làm suy giảm chức năng tế bào nội mô, các tế bào mất khả năng tăng sinh và tái tạo sau tổn thương thay Danh.2017 vào đó là sự xơ hóa lan tỏa [29, 58]. Mạch máu sẽ trở nên dày, cứng, giảm khả năng đàn hồi. Cùng với đó, tuổi càng cao, khả năng co bóp và phân suất tống máu của tim giảm đồng thời khả năng điều hòa nhịp tim, đáp ứng với kích thích của hệ adrenergic cũng bị suy yếu.

Đây là các yếu tố làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố tim mạch như: xơ vữa mạch, tăng huyết áp, rung nhĩ, đột quỵ [56]. Theo thống kê của Hội tim mạch Hoa Kỳ, từ sau 45 tuổi, cứ mỗi 10 năm, nguy cơ đột quỵ sẽ tăng gấp đôi và có tới 70% số cơn đột quỵ xảy ra sau tuổi 65 [67]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương trên đối tượng bệnh nhân nội của Bệnh viện Quân y 103 thấy rằng nguy cơ mắc bệnh mạch vành tăng lên theo tuổi ở cả 2 giới. Ở độ tuổi 20-39, nguy cơ tim mạch ở nam giới là 2,59 ± 5,72, nguy cơ này đã tăng lên tới 23,08 ± 5,82 ở độ tuổi 70-79, tương tự với nữ giới [4].

Hình 1: Số yếu tố nguy cơ mà đối tượng mắc phải phân theo giới và tuổi trong nghiên cứu mô hình yếu tố nguy cơ tại Việt Nam năm 2008 [77]. Không những thế, tuổi càng cao thì thời gian tác động và số YTNC đối tượng mắc phải như đái tháo đường, mỡ máu, hút thuốc lá càng nhiều. Theo nghiên cứu của Wu và cộng sự tỷ lệ đối tượng có từ hai YTNC tim mạch trở lên thay đổi từ 36,0% ở nam giới trẻ tuổi đến 67,4% ở nam giới trong độ tuổi 50-59 và từ 6,5% ở phụ nữ trẻ đến 50,3% ở phụ nữ trong độ tuổi từ 50-59 [93]. Năm 2008, Nguyễn Ngọc Quang trong nghiên cứu mô hình YTNC tại Việt Nam cũng cho thấy sự gia tăng theo tuổi của số yếu tố nguy cơ ở cả 2 giới [77].

Hình 1 là kết quả thu được từ Danh.2017 nghiên cứu trên. Nhóm YTNC chuyển hóa tăng theo tuổi một cách rõ ràng hơn nhóm YTNC hành vi, thói quen, đặc biệt là khi quan sát ở nữ giới. Giới Mặc dù cả nam giới và nữ giới đều có các yếu tố nguy cơ tim mạch là tương tự nhau, tuy nhiên mức độ tác động của từng yếu tố lên mỗi giới lại khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ