Khảo sát các thể lâm sàng tăng huyết áp theo Y học cổ truyền tại Cần Thơ

Khảo sát các thể lâm sàng của bệnh tăng huyết áp theo Y học cổ truyền. Tổng hợp nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và phương pháp điều trị nội trú.

Chuyên ngành

Y học Cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2018

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và phân loại các thể lâm sàng tăng huyết áp theo Y học cổ truyền

Tăng huyết áp là một bệnh lý phổ biến hiện nay, ảnh hưởng đến sức khỏe của hàng triệu người trên toàn thế giới. Theo Y học cổ truyền Việt Nam, tăng huyết áp không chỉ được nhìn nhận từ góc độ áp lực máu mà còn được phân tích dựa trên sự mất cân bằng của các yếu tố Âm-Dương, Khí-Huyết. Các thể lâm sàng tăng huyết áp theo Y học cổ truyền được chia thành nhiều loại khác nhau, mỗi loại có đặc điểm và triệu chứng riêng biệt. Việc phân loại này giúp các bác sĩ Y học cổ truyền có thể đưa ra chẩn đoán chính xác và lập kế hoạch điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa tăng huyết áp trong Y học cổ truyền

Trong Y học cổ truyền, tăng huyết áp được xem xét qua lăng kính của Khí, Huyết và Tẩm Dịch. Bệnh này được gọi là "Đầu Hoa" hoặc "Đầu Dùng" khi bệnh nhân có triệu chứng đầu nặng, chóng mặt, mắt đỏ. Nguyên nhân bệnh chủ yếu do Can Dương vượng hóa, Thận Âm hư hoặc Đàm Trọc tích tụ, dẫn đến rối loạn lưu thông Khí-Huyết.

1.2. Nguyên tắc phân loại thể lâm sàng

Các thể lâm sàng được phân loại dựa trên các triệu chứng lâm sàng, dấu hiệu mạch và dung nhân bệnh nhân. Mỗi thể lâm sàng phản ánh một loại mất cân bằng khác nhau trong cơ thể. Sự phân loại này giúp điều trị tăng huyết áp theo Y học cổ truyền trở nên hiệu quả hơn và có tính cá nhân hóa cao.

II. Các thể lâm sàng chính của tăng huyết áp theo Y học cổ truyền

Nghiên cứu tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Cần Thơ đã xác định rằng tăng huyết áp có thể được phân thành nhiều thể lâm sàng khác nhau. Những thể lâm sàng này phản ánh các mức độ không cân bằng khác nhau của Khí, Huyết và các tạng phủ. Việc xác định chính xác thể lâm sàng là bước đầu tiên quan trọng để lập kế hoạch điều trị. Các thể lâm sàng tăng huyết áp bao gồm thể Can Dương thượng cang, thể Thận Âm hư, thể Âm Dương lưỡng hư, thể Đàm Trọc thượng mông và các thể khác. Mỗi thể có những triệu chứng đặc trưng và yêu cầu phương pháp điều trị riêng.

2.1. Thể Can Dương thượng cang

Thể Can Dương thượng cang là một trong những thể lâm sàng tăng huyết áp phổ biến nhất. Triệu chứng bao gồm: đầu nặng, chóm gió nóng, mắt đỏ, mặt đỏ, khó ngủ, dễ cáu gắt. Mạch nhanh và kỳ. Dung nhân đỏ, rêu vàng. Nguyên nhân chủ yếu là stress, mệt mỏi hoặc chế độ ăn uống không lành mạnh.

2.2. Thể Thận Âm hư và thể Âm Dương lưỡng hư

Thể Thận Âm hư đặc trưng bởi chóng mặt, ù tai, mỏi lưng, chân yếu, lưỡng tính giảm, khô miệng. Thể Âm Dương lưỡng hư có thêm các triệu chứng như bốc hỏa chiều tối, mồ hôi ban đêm, mệt mỏi. Mạch mảnh và nhanh. Điều trị cần bổ Thận Âm, tẩm dịch.

III. Phương pháp chẩn đoán thể lâm sàng tăng huyết áp theo Y học cổ truyền

Chẩn đoán các thể lâm sàng tăng huyết áp trong Y học cổ truyền dựa trên bốn phương pháp chẩn đoán cổ điển: Vọng, Tính, Vấn, Cắt. Vọng chẩn quan sát vẻ mặt, màu da, tư thế cơ thể. Tính chẩn lắng nghe giọng nói, hơi thở. Vấn chẩn hỏi về triệu chứng, thói quen sống. Cắt chẩn bao gồm khám mạch và dung nhân. Các bác sĩ cần kết hợp các phương pháp này để đưa ra chẩn đoán chính xác thể lâm sàng. Việc phân biệt đúng thể lâm sàng giúp lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, tăng hiệu quả điều trị bệnh.

3.1. Khám mạch và dung nhân

Khám mạch là kỹ thuật quan trọng giúp xác định thể lâm sàng. Mạch nhanh chỉ Can Dương, mạch mảnh chỉ Âm hư. Khám dung nhân quan sát màu sắc, dạng rêu để đánh giá tình trạng Khí Huyết. Dung nhân đỏ, rêu vàng chỉ nhiệt, dung nhân nhạt chỉ hư.

3.2. Tiêu chuẩn phân loại thể lâm sàng

Tiêu chuẩn phân loại dựa trên tổng hợp các triệu chứng lâm sàng, mạch, dung nhân và bối cảnh bệnh nhân. Mỗi thể lâm sàng tăng huyết áp có bộ tiêu chuẩn cụ thể, giúp phân biệt với các thể khác và hướng dẫn lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu.

IV. Phương pháp điều trị từng thể lâm sàng tăng huyết áp

Điều trị tăng huyết áp theo Y học cổ truyền tuân theo nguyên tắc "vì chứng mà trị", tức là mỗi thể lâm sàng sẽ có phương pháp điều trị riêng. Thể Can Dương thượng cang được điều trị bằng cách hạ Can, tẩm dịch, thanh nhiệt. Thể Thận Âm hư cần bổ Thận Âm, tẩm dịch. Thể Âm Dương lưỡng hư phải vừa bổ Âm, vừa bổ Dương. Phương pháp điều trị bao gồm: dùng thảo dược, châm cứu, moxibustion, massage. Việc phối hợp các phương pháp này giúp cải thiện triệu chứng, cân bằng Âm Dương và điều chỉnh huyết áp một cách toàn diện.

4.1. Điều trị bằng thảo dược cho các thể lâm sàng khác nhau

Điều trị thảo dược là phương pháp cơ bản trong Y học cổ truyền. Với thể Can Dương, dùng các vị thuốc như Thục địa, Tỳ bà lá, Hạ khô thảo. Với thể Thận Âm hư, dùng Nhân sâm, Bạch ch術, Long cốt. Mỗi loại thảo dược được kết hợp theo nguyên tắc cân bằng để tạo ra công thức điều trị hiệu quả.

4.2. Châm cứu và các liệu pháp bổ trợ

Châm cứu là một phương pháp điều trị quan trọng, với các h穴位 như Thái xung, Gian du giúp điều chỉnh Khí Huyết. Moxibustion ấm cơ thể, bổ dương khí. Massage giúp lưu thông Khí Huyết, giảm căng thẳng. Kết hợp điều dưỡng sinh hoạt: ngủ đủ, tránh stress, ăn uống hợp lý tăng hiệu quả điều trị tăng huyết áp.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tăng huyết áp theo YHHĐ 1. Tình hình tăng huyết áp ở Việt Nam và trên Thế Giới 1. Tình hình THA trên thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) năm 2008, gần 40% người lớn trên 25 tuổi được chẩn đoán mắc tăng huyết áp trên toàn cầu.

Số người mắc THA tăng từ 600 triệu người vào năm 1980 đến 1 tỷ người năm 2008 [63]. Năm 2013 thì ước tính có khoảng 77,9 triệu người bị tăng huyết áp [42]. Năm 2006, nước Anh đã chi khoảng 1 tỷ bảng Anh cho việc điều trị THA tại các cơ sở y tế chăm sóc ban đầu [51]. Ở một số nước châu Á như Campuchia thì tỷ lệ tăng huyết áp ở người từ 40 - 65 tuổi là 17,2%, ở Malaysia là 30,3% và ở Mông Cổ là 50,1% [52].

Một nghiên cứu tại Trung Quốc ở người từ 35 - 74 tuổi cho thấy tỷ lệ THA là 27,2% [43]. Tình hình THA ở Việt Nam Trần Văn Huy (2007) ở Khánh Hòa thì tỷ lệ THA của người dân trên 40 tuổi là 34,2 % [13]. Lê Quang Đạo (2010) tại Lâm Đồng tỷ lệ THA của người từ 25 - 64 tuổi chiếm 18,0% [7]. Nguyễn Thái Hoàng (2012) tỷ lệ THA của người cao tuổi tại Thành phố Cần Thơ là 49,89% [12].

Định nghĩa huyết áp Huyết áp là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể [22]. Sinh bệnh học THA THA xảy ra khi có sự tăng cung lượng tim hoặc tăng sức cản ngoại biên hoặc cả hai cùng gia tăng [20],[28]. Sự điều hòa HA Biểu đồ 1.1 Cơ chế tác dụng của hệ RAA [20],[28]. Định nghĩa tăng huyết áp 1.

Định nghĩa THA Theo tổ chức Y tế Thế giới và Hội tăng huyết áp Quốc Tế (WHO – ISH) định nghĩa THA khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥90 mmHg [29],[39]. Một số định nghĩa về THA - THA tâm thu đơn độc: HATT ≥140 mmHg và HATTr <90 mmHg [28]. - THA tâm trương đơn độc: khi HATTr ≥90 mmHg và HATT <140 mmHg, thường xảy ra ở người trung niên [28]. 5 - THA kịch phát: khi HATT ≥220 mmHg và/hoặc HATTr ≥120 mmHg được gọi là THA kịch phát [28].

- THA kháng trị: HA ≥140/90 mmHg khi đã điều trị phối hợp ≥3 thuốc THA ở liều trung bình trong một tuần, trong đó có thuốc lợi tiểu [28]. Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp - Tại phòng khám: khi BN có HA ≥140/90 mmHg. Sau khám lâm sàng ít nhất 2 lần khác nhau. Mỗi lần khám HA được đo ít nhất 2 lần [14],[29].

- Tại nhà: khi đo nhiều lần đúng phương pháp. THA khi có trị số HA ≥135/85 mmHg [14],[29]. - Đo HA bằng máy Holter 24h: HA >125/80 mmHg [14],[29]. Phân loại tăng huyết áp 1.

Phân loại theo nguyên nhân THA nguyên phát: chiếm tới 90 – 95% các trường hợp. Phụ thuộc vào các yếu tố: di tuyền, lượng muối ăn vào, tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm, kháng lực mạch máu, hệ RAA, …[6],[18],[26]. THA thứ phát: chiếm 5 – 10% trường hợp. Bệnh ở nhu mô thận, dị dạng động mạch thận, cường Aldosteron, THA ở phụ nữ có thai,… [28].

Phân loại tăng huyết áp Bảng 1.1 Phân loại THA theo JNC VII – WHO – ISH 5/2003 [38],[49] HATT HATTr Phân loại THA (mmHg) (mmHg) Bình thường <120 Và <80 Tiền THA 120 – 139 Và 80 – 89 THA giai đoạn 1 140 – 159 Và/hoặc 90 – 99 THA giai đoạn 2 ≥160 Và/hoặc ≥100 6 Bảng 1.2 Phân loại THA theo JNC VI – 1999 của WHO – ISH [47],[40] HATT HATTr Độ THA (mmHg) (mmHg) Tối ưu <120 Và <80 Bình thường <130 Và <85 Bình thường cao 130 – 139 Hoặc 85 – 89 THA độ 1 140 – 159 Và/hoặc 90 – 99 THA độ 2 160 – 179 Và/hoặc 100 – 109 THA độ 3 ≥180 Và/hoặc ≥110 THA tâm thu đơn độc ≥140 Và <90 1. Lâm sàng THA và cận lâm sàng 1. Đặc điểm lâm sàng của THA Phần lớn người bệnh THA không có hoặc có rất ít triệu chứng cơ năng. Tuy nhiên các triệu chứng do HA tăng cao có thể bao gồm: nhức đầu, chóng mặt, xây xẩm, dễ mệt, nặng ngực,… triệu chứng nhức đầu thường trội hơn, xảy ra ở vùng chẩm hay sau gáy thường vào buổi sáng.

Đặc điểm cận lâm sàng của THA Các xét nghiệm thường quy: đường huyết tương, creatinin huyết thanh, lipip máu (Cholesterol, HDL-c, LDL-c, Triglycerid), kali huyết tương, Hb và Hct, tổng phân tích nước tiểu, đo điện tâm đồ. Các xét nghiệm khuyến cáo: siêu âm tim, siêu âm động mạc cảnh, CRP, albumin vi lượng (vi đạm niệu), soi đáy mắt. Điều trị tăng huyết áp 1. Mục đích và nguyên tắc điều trị [8],[9],[14] - Cần xác định điều trị THA là điều trị lâu dài, suốt đời, nhằm mục đích ngăn ngừa lâu dài các biến chứng.

- Nếu không có những tình huống THA cấp cứu thì HA nên được hạ từ từ để tránh những biến chứng thiếu máu cơ quan đích. - Điều trị cần tích cực ở người bệnh có tổn thương cơ quan đích. Các phương pháp điều trị không dùng thuốc Giáo dục người bệnh, giảm cân nếu thừa cân, hạn chế rượu, tăng cường luyện tập thể lực, chế độ ăn, bỏ thuốc lá [8],[14][,29]. Điều trị THA bằng thuốc Nhóm thuốc hạ áp [8],[20],[21] a.

Thuốc tác động lên hệ giao cảm Thuốc chẹn giao cảm: Propranolol, Solatol, Atenolol,… Thuốc chẹn giao cảm: Methyldopa, Prazosin,… Thuốc chẹn giao cảm: Carvedilol, Labetalol,. Thuốc lợi tiểu: nhóm Thiazide, Furosemide, Aldosterone c. Thuốc chẹn kênh Calci + Có 2 nhóm Nhóm Dihydropyridine (DHP): Nifedipine, Amlodipin, … Nhóm Non Dihydropyridine (non DHP): Diltiazem, Verapamil. Thuốc tác động lên hệ Renin – angiotensin Thuốc ức chế men chuyển: Captoril, Enalapril,… Thuốc kháng thụ thể AT1: Losartan, Telmisartal,… e.

Thuốc giãn mạch trực tiếp: Hydralazine f. Các thuốc hạ áp đường tĩnh mạch: Nitroglycerin, Nitroprusside, Hydralazine 8 1. Tổng quan về tăng huyết áp theo y học cổ truyền Tìm hiểu các tài liệu YHCT nói về bệnh THA của YHHĐ là điều không đơn giản. THA là danh từ bệnh học YHHĐ và không có từ đồng nghĩa trong bệnh học YHCT.

Từ đồng nghĩa dễ gặp giữa YHHĐ và YHCT là các triệu chứng (ví dụ: “đau đầu” với bệnh danh “đầu thống”, “hoa mắt, chóng mặt” với bệnh danh “huyễn vựng”, “mất ngủ” với bệnh danh “thất miên”…). Các chứng trạng thường gặp trong bệnh THA theo YHCT - Hoa mắt, chóng mặt: YHCT xếp vào chứng huyễn vậng hay còn gọi là chứng huyễn vựng. - Đau đầu: YHCT xếp vào chứng đầu thống, đầu trọng, đầu trướng dựa vào những biểu hiện khác nhau của nó. - Đánh trống ngực, hồi hộp: YHCT xếp chúng vào chứng tâm quý, chính xung.

- Đau ngực: gọi là tâm thống, hoặc kèm theo khó thở gọi là tâm tý, tâm trướng. - Hôn mê, liệt nửa người: YHCT xếp vào chứng trúng phong. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của THA theo YHCT Qua việc phân tích cơ chế bệnh sinh của toàn bộ chứng trạng thường gặp trong bệnh lý THA theo YHCT, có thể biện luận cơ chế bệnh sinh như sau [10]: 1. Tình chí tổn thương Nóng giận tổn thương can, quá sợ hãi tổn thương thận, nộ tắc khí nghịch, khủng tắc tinh mất, âm hư ở dưới, hỏa nghịch lên trên, chấn động tâm thần mà gây ra tâm quý [32].

Tình chí kích thích quá độ, tâm hỏa dữ dội, có thể dẫn động nội phong mà phát bệnh trúng phong [32]. Do uất nộ mà gây ra can thất sơ tiết, lâu ngày uất mà hóa hỏa hoặc thời gian dài phiền lao quá độ, tinh thần căng thẳng, hư hỏa nội thiêu, âm tinh ngầm hao, 9 lâu dần hao tổn can âm, can âm không khống chế được can dương, can dương thượng kháng, mạch lạc thất dưỡng gây đau đầu, trúng phong, … [33]. Thể chất suy nhược Bẩm sinh yếu ớt, cơ địa suy nhược, bệnh lâu ngày không được chăm sóc tốt, khí huyết âm dương khuy tổn dẫn đến tâm không được nuôi dưỡng tốt mà phát bệnh tâm quý [32]. Tiên thiên không đầy đủ, thận âm không được sung mãn hoặc ở người già thận hư hoặc do bệnh lâu ngày làm tổn thương thận.

Thận tinh thiếu hụt không thể sinh tủy, mà não vi tủy chi hải bất túc, thượng hạ điều hư mà phát bệnh [32]. Thường ngày vốn âm khuy huyết hư, dương thịnh hỏa vượng, phong hỏa hừng hực hoặc tuổi cao sức yếu, can thận âm hư, can dương thiên kháng. Hai loại trên nếu nghỉ ngơi thiếu hợp lý, có thể khiến cho âm hư dương kháng, khí huyết thượng nghịch, thượng lấp thanh khiếu, đột ngột phát bệnh trúng phong, huyễn vựng,… [32]. Do can âm bất túc hoặc thận âm vốn dĩ hư tổn, nếu can âm không khống chế được can dương, can dương sẽ thượng kháng mà gây đau đầu [33].

Ẩm thực bất tiết Tỳ vị thất kiện vận làm cho nguồn sinh ra khí huyết không đầy đủ, não thất kiện vận, mạch lạc thất dưỡng mà gây đau đầu, huyễn vựng, chóng mặt,… [31],[32],[33]. Do ẩm thực bất tiết làm tổn thương tỳ vị, tỳ thất kiện vận, đàm thấp nội sinh, dẫn đến thanh dương bất thăng, trọc âm bất giáng, thanh khiếu bế trở, mạch lạc không được nuôi dưỡng tốt hoặc đàm hỏa nhiễu tâm mà gây bệnh [31],[32],[33]. 10 Tóm lại Sự phân chia này có tính tương đối vì giữa các nguyên nhân (theo Y học cổ truyền), và các thể lâm sàng có mối liên hệ với nhau như can thận âm hư có thể dẫn đến can dương vượng (can dương thượng xung), thận âm hư lâu ngày dẫn đến thận dương hư hoặc như thận dương hư có thể gây nên bệnh cảnh đàm thấp.2 Sơ đồ bệnh lý THA theo YHCT [10] 1. Các thể lâm sàng của THA và phương pháp điều trị theo YHCT Căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh và triệu chứng lâm sàng phân làm 4 thể sau: 1.

Can dương thượng cang - Triệu chứng: biểu hiện bằng các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt, ù tai; đau căng tức vùng đầu, tâm phiền, khó ngủ, hay cáu gắt, miệng khô khát; mặt đỏ, mắt đỏ, đại tiện bí kết, tiểu vàng sẫm. Chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác hữu lực [11]. 11 - Trị pháp: Bình can tiềm dương, tư dưỡng can thận [11]. - Phương dược Thiên ma câu đằng ẩm [11],[31].

Bài 1: Thiên ma câu đằng ẩm gồm các vị sau: Thiên ma (08 - 12g), Tang ký sinh (20 - 30g), Câu đằng (12 - 16g), Phục thần (12 - 20g), Ngưu tất (12 - 16g), Ích mẫu (12 - 16g), Dạ giao đằng (12 - 20g), Hoàng cầm (12g), Thạch quyết minh (20 - 30g), Chi tử (08 - 12g). Nếu nhức đầu nhiều thêm Cúc hoa (12g), Mạn kinh tử (12g), nếu ngủ ít thêm Toan táo nhân (08g), Bá tử nhân (08g).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ