Hiệu quả phối hợp châm cứu-VLTL-YHCT phục hồi sau đột quỵ - Nguyễn Văn Tùng

Dưới đây là các meta tags cho bài viết "Phác đồ phối hợp châm cứu-VLTL-YHCT phục hồi sau đột quỵ" theo yêu cầu: { "ai_description": "Phác đồ phối hợp châm

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

177
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phác đồ phối hợp châm cứu vật lý trị liệu thuốc y học cổ truyền cho bệnh nhân đột quỵ

Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật ở người trưởng thành. Thiếu sót vận động sau đột quỵ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Y học cổ truyền Việt Nam có nhiều phương pháp điều trị hiệu quả. Châm cứu cải tiến kết hợp vật lý trị liệu và thuốc y học cổ truyền tạo nên phác đồ phối hợp toàn diện. Phác đồ này tác động đa chiều lên hệ thần kinh, cơ xương khớp và các tạng phủ. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tùng năm 2021 tại Đại học Y Dược TP.HCM đã đánh giá hiệu quả của phác đồ này trên bệnh nhân thiếu sót vận động sau đột quỵ 3 tháng. Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể về chức năng vận động. Phương pháp này mang lại hy vọng mới cho bệnh nhân đột quỵ trong giai đoạn phục hồi. Phác đồ phối hợp đại diện cho hướng tiếp cận tích hợp giữa y học cổ truyền và hiện đại.

1.1. Vai trò của châm cứu cải tiến trong phục hồi chức năng sau đột quỵ

Châm cứu cải tiến là phương pháp kết hợp kỹ thuật châm cứu truyền thống với y học hiện đại. Phương pháp này sử dụng các huyệt vị chính như Bách hội, Khúc trì, Hợp cốc, Túc tam lý. Châm cứu có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, thông kinh hoạt lạc. Điện châm giúp tăng cường kích thích thần kinh cơ. Nghiên cứu cho thấy châm cứu cải thiện lưu lượng máu não. Phương pháp này kích thích quá trình tái tổ chức thần kinh. Châm cứu giảm spasticity và cải thiện biên độ vận động. Hiệu quả phục hồi rõ rệt sau hai đến ba liệu trình điều trị.

1.2. Tác dụng của thuốc y học cổ truyền trong điều trị thiếu sót vận động

Thuốc y học cổ truyền đóng vai trò quan trọng trong điều trị đột quỵ. Bài Bổ dương hoàn ngũ thang gồm Huỳnh kỳ, Đương quy, Xuyên khung, Xích thược. Bài thuốc có tác dụng bổ khí hoạt huyết, khử ứ thông lạc. Chế phẩm Lục vị được sử dụng cho bệnh nhân Thận âm hư. Thuốc tác động lên nguyên nhân gốc rễ của bệnh. Y học cổ truyền xem đột quỵ thuộc phạm vi chứng trúng phong. Điều trị tập trung cân bằng âm dương, điều hòa khí huyết. Kết hợp với châm cứu tạo hiệu quả hiệp đồng vượt trội.

II. Thực trạng thiếu sót vận động ở bệnh nhân sau đột quỵ 3 tháng và thách thức

Thiếu sót vận động sau đột quỵ 3 tháng là vấn đề nghiêm trọng trong y học phục hồi chức năng. Bệnh nhân thường gặp hạn chế về cử động tay chân, dáng đi và thăng bằng. Giai đoạn 3 tháng sau đột quỵ được xem là thời điểm vàng để can thiệp. Nhiều bệnh nhân bỏ lỡ cơ hội phục hồi do thiếu kiến thức. Các phương pháp điều trị đơn lẻ thường không đạt hiệu quả tối ưu. Tây y tập trung vào vật lý trị liệu nhưng chưa giải quyết gốc bệnh. Đông y đơn thuần chưa đủ tác động lên hệ thần kinh cơ. Sự phối hợp đa phương pháp trở thành xu hướng tất yếu. Nghiên cứu chỉ ra rằng phác đồ phối hợp mang lại kết quả vượt trội. Cần có bằng chứng khoa học để khẳng định hiệu quả của phương pháp tích hợp này.

2.1. Dịch tễ học và gánh nặng bệnh tật của đột quỵ tại Việt Nam

Đột quỵ là nguyên nhân tử vong và tàn tật hàng đầu tại Việt Nam. Mỗi năm có khoảng 200.000 ca đột quỵ mới được ghi nhận. Tỷ lệ tàn tật sau đột quỵ lên đến 50-70% bệnh nhân. Bệnh nhân thiếu sót vận động chiếm tỷ lệ cao nhất trong các di chứng. Gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội rất lớn. Chi phí phục hồi chức năng kéo dài nhiều tháng thậm chí nhiều năm. Nhiều bệnh nhân không tiếp cận được dịch vụ y tế chất lượng. Đội ngũ nhân lực phục hồi chức năng còn thiếu hụt. Nhu cầu điều trị hiệu quả và chi phí hợp lý rất cấp bách.

2.2. Hạn chế của các phương pháp điều trị thiếu sót vận động hiện tại

Các phương pháp điều trị hiện tại tồn tại nhiều hạn chế đáng kể. Vật lý trị liệu đơn thuần cải thiện chậm và không toàn diện. Thuốc Tây y có nhiều tác dụng phụ trên bệnh nhân lớn tuổi. Châm cứu truyền thống chưa được chuẩn hóa quy trình điều trị. Người bệnh thường phải điều trị riêng lẻ tại nhiều cơ sở khác nhau. Thời gian phục hồi kéo dài làm giảm tuân thủ điều trị. Chi phí tích lũy từ nhiều phương pháp riêng biệt rất cao. Thiếu nghiên cứu đánh giá hiệu quả phối hợp đa phương pháp. Cần có phác đồ tích hợp để tối ưu kết quả điều trị cho bệnh nhân.

III. Phác đồ phối hợp châm cứu cải tiến vật lý trị liệu và thuốc y học cổ truyền

Phác đồ phối hợp bao gồm ba trụ cột điều trị chính. Châm cứu cải tiến sử dụng kỹ thuật điện châm kết hợp huyệt vị truyền thống. Vật lý trị liệu bao gồm tập vận động thụ động, chủ động và dưỡng sinh. Thuốc y học cổ truyền gồm Bổ dương hoàn ngũ thang và Lục vị. Quy trình điều trị được chia thành ba giai đoạn rõ ràng. Giai đoạn một dành cho bệnh nhân liệt hoàn toàn với tập thụ động kết hợp xoa bóp bấm huyệt. Giai đoạn hai cho bệnh nhân ngồi được với tập chủ động dần. Giai đoạn ba cho bệnh nhân đứng đi được với tập thăng bằng. Thời gian điều trị mỗi liệu trình là mười ngày. Bệnh nhân được đánh giá bằng thang điểm Fugl-Meyer và Barthel.

3.1. Kỹ thuật châm cứu cải tiến và lựa chọn huyệt vị điều trị

Châm cứu cải tiến kết hợp điện châm với lựa chọn huyệt vị khoa học. Các huyệt chính gồm Bách hội, Thủy câu, Nội quan, Tam âm giao. Huyệt vùng chi trên gồm Khúc trì, Hợp cốc, Ngoại quan, Hậu khê. Huyệt vùng chi dưới gồm Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Tam âm giao. Điện châm sử dụng tần số 2-100Hz dạng sóng liên tục. Thời gian lưu kim 30 phút mỗi lần điều trị. Liệu trình 10 ngày liên tục, nghỉ 3-5 ngày giữa các liệu trình. Tổng thời gian điều trị là ba liệu trình liên tiếp.

3.2. Bài thuốc Bổ dương hoàn ngũ thang và chế phẩm Lục vị

Bổ dương hoàn ngũ thang gồm Huỳnh kỳ 120g, Đương quy 6g, Xuyên khung 3g. Thành phần còn có Xích thược 5g, Hồng hoa 3g, Đào nhân 3g, Địa long 3g. Bài thuốc có tác dụng bổ khí hoạt huyết, khử ứ thông lạc. Chế phẩm Lục vị dành riêng cho bệnh nhân Thận âm hư. Lục vị gồm Thục địa, Sơn thù, Hoài sơn, Trạch tả, Đan bì, Phục linh. Thuốc sắc uống ngày một thang chia ba lần. Thời gian sử dụng suốt quá trình điều trị. Thuốc giúp bổ thận âm, cải thiện triệu chứng Thận âm hư hiệu quả.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của phác đồ phối hợp trong phục hồi sau đột quỵ

Nghiên cứu khẳng định hiệu quả vượt trội của phác đồ phối hợp châm cứu vật lý trị liệu thuốc y học cổ truyền. Nhóm điều trị phối hợp cải thiện điểm Fugl-Meyer cao hơn nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê. Chức năng vận động tay chân phục hồi rõ rệt sau 30 ngày điều trị. Các triệu chứng Thận âm hư giảm đáng kể ở nhóm sử dụng Lục vị. Phác đồ an toàn, không có tác dụng phụ nghiêm trọng được ghi nhận. Thời gian điều trị hợp lý với ba liệu trình trong 30 ngày. Chi phí điều trị phù hợp với điều kiện kinh tế bệnh nhân. Kết quả mở ra hướng điều trị mới cho bệnh nhân đột quỵ. Phác đồ có thể áp dụng rộng rãi tại các cơ sở y tế. Nghiên cứu đóng góp bằng chứng khoa học quan trọng cho y học cổ truyền Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa lâm sàng và khả năng ứng dụng thực tế của phác đồ

Phác đồ phối hợp có ý nghĩa lâm sàng to lớn đối với điều trị đột quỵ. Phương pháp dễ áp dụng tại bệnh viện và phòng khám trên toàn quốc. Không yêu cầu trang thiết bị phức tạp hay đắt tiền. Đội ngũ y bác sĩ y học cổ truyền có thể triển khai ngay lập tức. Bệnh nhân được điều trị toàn diện trong một phác đồ duy nhất. Thời gian nằm viện ngắn, giảm gánh nặng cho hệ thống y tế. Kết quả cải thiện rõ rệt giúp bệnh nhân sớm trở lại cuộc sống bình thường. Phác đồ phù hợp với điều kiện y tế đặc thù của Việt Nam.

4.2. Hướng phát triển và khuyến nghị cho nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu mở ra nhiều hướng phát triển mới cho lĩnh vực phục hồi chức năng. Cần nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định kết quả. Nên đánh giá hiệu quả dài hạn trên sáu tháng và mười hai tháng. Cần nghiên cứu cơ chế tác dụng trên phương diện phân tử và di truyền. Ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong theo dõi phục hồi chức năng. Xây dựng phác đồ chuẩn hóa cho từng giai đoạn đột quỵ. Đào tạo đội ngũ nhân lực y học cổ truyền chuyên sâu về phục hồi. Tích hợp phác đồ vào chương trình phục hồi chức năng quốc gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ hiệu quả phục hồi của phác đồ phối hợp châm cứu vật lý trị liệu thuốc y học cổ truyền trên bệnh nhân thiếu sót vận động sau đột quỵ 3 tháng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Quan niệm theo Y học hiện đại về bệnh đột quỵ 1. Định nghĩa Tai biến mạch máu não là các thiếu sót thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa, các triệu chứng tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ (loại trừ các nguyên nhân chấn thương sọ não). [2] Trong những thập niên cuối thế kỷ 20 này nhiều nhà lâm sàng thần kinh chú ý đến tính khởi phát đột ngột và đồng thời xuất hiện các triệu chứng cục bộ (như liệt nửa người, hôn mê, mất ngôn ngữ…) như một tấn công làm tổn thương não bộ.

Khái niệm đột quỵ (Stroke) biểu hiện hai nội dung cơ bản là các triệu chứng lâm sàng xảy ra đột ngột - tức thì và khiếm khuyết thần kinh thường là cục bộ. Thuật ngữ lâm sàng chung vẫn là Tai biến mạch máu não. Dịch tễ học 1. Tỉ lệ phát bệnh - Theo thống kê tại Mỹ (Russell, 1983), hàng năm có khoảng 500.000 trường hợp đột quỵ mới, phần lớn xảy ra sau 55 tuổi [4].

Thế nhưng theo thống kê gần đây nhất, thì tại Mỹ có hơn 600.000 trường hợp phát bệnh mỗi năm và hiện có khoảng 4 triệu người bị đột quỵ còn sống sót (NINDS-June 6, 2002) [31]. - Nhật Bản có tỉ lệ phát bệnh cao nhất thế giới, 340 – 530 người trong tổng số 10 vạn dân [22]. - Ở Trung Quốc tỉ lệ phát bệnh là 219 người/ 10 vạn dân mỗi năm, tỉ lệ mắc bệnh trong năm là 620 người/10 vạn dân [22]. - Trung bình trên thế giới có khoảng 200 trường hợp bệnh mới trong tổng số 10 vạn dân mỗi năm, tỉ lệ mắc là 500-600 người/10 vạn dân.

Tỉ lệ mắc bệnh theo tuổi: Theo những thống kê trước đây, bệnh đột quỵ thường xuất hiện ở những người cao tuổi, từ 60 đến 65 tuổi, trên 50 tuổi chiếm tỉ lệ khoảng 79,5-86,1%. Nhưng trong những năm gần đây, người ta nhận thấy những người có độ tuổi 30-40 hoặc thậm chí rất ít tuổi vẫn bị không ít [10], [11]. Ở Phần Lan và Hoa Kỳ, số bệnh nhân độ tuổi từ 0-34 mỗi năm lần lượt là 7,7 và 4 trên 10 vạn dân. Số bệnh nhân đột quỵ ở Trung Quốc dưới 41 tuổi chiếm tỉ lệ 5,8% [31].

Nói chung ngày nay tỉ lệ đột quỵ ở những người ít tuổi đang có chiều hướng tăng lên. Nguyên nhân đột quỵ Các nguyên nhân thường gặp trong đột quỵ [4]: - Xơ mỡ động mạch với tăng huyết áp - Dị dạng mạch máu não (nhất là túi phình), u não, bệnh về máu (bệnh bạch cầu) - Chấn thương sọ não, thuyên tắc động mạch não (xuất phát từ tim trái như hẹp van hai lá, viêm nội tâm mạc do nhiễm trùng, rung thất….) - Tiểu đường, giang mai, viêm màng não mãn, thoái hóa cột sống cổ, teo hẹp động mạch cột sống, viêm nút quanh động mạch, sử dụng thuốc chống đông… - Bệnh về máu như xuất huyết giảm tiểu cầu, bệnh máu chậm đông (hémophilie), bạch cầu cấp; Ngộ độc (chì, CO, rượu …) Phân loại nguyên nhân nhồi máu não theo TOAST [1] Theo phân loại TOAST, nhồi máu não được xếp vào 5 nhóm nguyên nhân. Việc quyết định chẩn đoán nguyên nhân của một trường hợp nhồi máu não được dựa trên các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ, siêu âm tim, siêu âm duplex động mạch cảnh – cột sống, các xét nghiệm về tình trạng tăng đông. Các đặc điểm chính để phân loại nhồi máu não theo nguyên nhân được tóm tắt trong bảng dưới đây: 5 Bảng 1.1: Phân loại nguyên nhân nhồi máu não theo TOAST “Nguồn: Sổ tay lâm sàng thần kinh, 2017” [1] Thuyên Tắc Nguyên XVĐM Đặc điểm tắc từ ĐM nhân lớn tim nhỏ khác Lâm sàng - RL chức năng vỏ não hoặc tiểu não + + - +/- - Hội chứng lỗ khuyết - - + +/- Hình ảnh học - NMN vỏ não, tiểu não, thân não, + + - +/- dưới vỏ >1,5cm - - +/- +/- - NMN dưới vỏ, thân não <1,5cm Cận lâm sàng khác - Hẹp ĐM cảnh trong đoạn ngoài sọ + - - - - Nguồn thuyên tắc từ tim - + - - - Bất thường khác - - - + 1.

Các rối loạn chức năng sau đột quỵ và mức độ tàn phế Sơ đồ 1.1: Các rối loạn chức năng sau đột quỵ RL VẬN ĐỘNG RL GIÁC QUAN - Vận động tự động - RL Thị giác - Vận động hữu ý - RL Khứu giác - Thất điều vận động - RL Thính giác RL CẢM GIÁC RL CHỨC RL TÂM THẦN - Cảm giác nông NĂNG - RL ý thức - Cảm giác sâu SAU - RL trí nhớ - Cảm giác bản thể ĐỘT QUỴ - RL hành vi - RL cảm xúc RL NGÔN NGỮ - Thất ngôn vận động RL THỰC VẬT - Thất ngôn cảm giác - Rối loạn cơ vòng - Thất ngôn hỗn hợp - Rối loạn vận mạch - Thất ngôn mệnh danh 6 1. Rối loạn vận động Yếu và liệt nửa người là dấu hiệu thường gặp nhất trong đột quỵ, phân bố và mức độ liệt nửa người trên lâm sàng có thể giúp định khu tổn thương. Một bệnh cảnh lâm sàng đột quỵ với liệt nửa người là hình thái điển hình của một đột quỵ: liệt nửa người không đồng đều với tay hoặc chân nặng hơn thường thấy trong tổn thương vỏ não, trong khi tổn thương bao trong thì liệt nửa người đồng đều. Trong trường hợp liệt nửa người một bên kèm bất thường dây thần kinh sọ bên kia có thể gặp trong các tổn thương thân não như hội chứng Weber, Milard - Gubler.

Rối loạn cảm giác Triệu chứng thường gặp là tê, giảm hoặc mất cảm giác (triệu chứng âm tính). Triệu chứng cảm giác ở đây trái với triệu chứng của một cơn động kinh cảm giác với hiện tượng tê rần, đau nhói hay tăng cảm quá mức (triệu chứng dương tính). Mất cảm giác hoặc rối loạn cảm giác trong đột quỵ thường đi song song với liệt nửa người. Như trong hội chứng đồi thị do nhồi máu hay chảy máu, bên cạnh hiện tượng mất cảm giác có thể có yếu nhẹ nửa người cùng bên với rối loạn cảm giác.

Rối loạn ngôn ngữ Mất ngôn ngữ vận động xuất hiện khi tổn thương vùng Broca (phần sau hồi trán dưới). Trong rối loạn này, người bệnh mất khả năng nói thành lời, nhưng căn bản vẫn giữ được khả năng thông hiểu lời nói. Cũng cần phân biệt với nói khó (dysarthia) là rối loạn phát âm do bất thường các cơ lưỡi và họng, ở đây người bệnh có thể vẫn vận động cơ lưỡi và môi, nhưng mất khả năng phối hợp vận động hợp lý các cơ phụ trách động tác phát âm để tạo ra lời nói hiệu quả. [2] Mất ngôn ngữ giác quan (mất ngôn ngữ Wernicke) do tổn thương vùng Wernicke nằm ở phần sau hồi thái dương trên.

Người bệnh mất khả năng hiểu lời nói nhưng khả năng nói không bị ảnh hưởng do đó lời nói của bệnh nhân vẫn có thể lưu loát nhưng không thành câu, không rõ nghĩa, và hoàn toàn không phù hợp với chủ đề, với câu hỏi của người đối diện. Người bệnh thường nói nhiều và nói quá thừa (mất ngôn ngữ lưu loát). [2] Mất ngôn ngữ toàn bộ: là phối hợp cả hai loại mất ngôn ngữ trên, bệnh nhân không hiểu lời nói và cũng không nói được. Trường hợp này bệnh nhân vẫn tỉnh táo, linh hoạt, đáp ứng với môi trường xung quanh tốt trừ đáp ứng về ngôn ngữ (giật mình với tiếng động, quay về nơi có âm thanh, nhìn và tiếp xúc bằng mắt với người đối diện.

Rối loạn thị giác Trong bệnh mạch máu não rối loạn thị giác thường gặp là mù mắt, bán manh và nhìn đôi [2]. Mù thoáng qua do thiếu máu võng mạc được biết từ lâu với tên gọi “Amorosis Fugax”, xảy ra do tắc động mạch cảnh trong cùng bên, gây mất máu nuôi mắt, hoặc thuyên tắc động mạch mắt do mảnh huyết khối có nguồn gốc từ xơ vữa đoạn gần hệ động mạch cảnh, hoặc từ tim. Mù một bên đột ngột cũng có thể do bít tắc động mạch võng mạc trung tâm, bít tắc tĩnh mạch võng mạc trung tâm (mù nhẹ hơn tắc động mạch). Mù vỏ não xảy ra do tổn thương vỏ não thùy chẩm hai bên, thường là do tắc đỉnh động mạch thân nền.

Trường hợp này bệnh nhân không nhìn thấy nhưng phản xạ ánh sáng vẫn nhạy do chức năng thân não còn nguyên vẹn. Bán manh: thường là bán manh đồng danh hoặc góc manh đồng danh, tổ thương thường gặp ở tia thị hoặc vỏ não thùy chẩm một bên. Nhìn đôi có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hỏi bệnh sử đầy đủ giúp ích rất nhiều cho việc xác định nguồn gốc của nhìn đôi, trong nhiều trường hợp nó giúp xác định hầu hết các vị trí tổn thương.

Nhìn đôi xuất hiện đột ngột là điển hình của chảy máu hoặc nhồi máu thân não cấp tính. Nhìn đôi tiến triển chậm tăng dần thường do phình mạch hoặc u. Nhìn đôi có liên quan đến đau ở mắt hoặc xung quanh ổ mắt có thể do huyết khối tĩnh mạch xoang hang, do phình mạch của động mạch cảnh. Rối loạn ý thức - hôn mê Sự thức tỉnh được duy trì bởi hệ thống dẫn truyền từ thân não trên đến đồi thị, là hệ thống lưới kích hoạt hướng lên và sự tiếp nối phóng chiếu của chúng lên hai bán cầu não.

Hệ lưới liên tục nhận các tín hiệu hướng tâm từ khắp cơ thể và sau đó kích hoạt lên vỏ não hai bên, nhờ đó duy trì được trạng thái thức tỉnh. Hôn mê xảy ra hoặc khi hệ thống lưới hoạt hóa bị tổn thương, suy giảm hoạt động hoặc khi hoạt động chức năng của hai bán cầu não bị tổn thương. Có 3 dạng tổn thương chủ yếu gây hôn mê thường gặp: [1] - Tổn thương não khu trú gây ảnh hưởng cấu trúc sâu của gian não, chèn ép bán cầu còn lại, hoặc chèn ép trung não; nguyên nhân do máu tụ trong sọ, nhồi máu diện rộng trên lều, u não, áp xe. 8 - Các tổn thương thân não trực tiếp ảnh hưởng vào hệ thống lưới thân não.

- Quá trình rối loạn chức năng thân não và/hoặc ảnh hưởng cả hai bên vỏ não, gặp trong các nguyên nhân chuyển hóa, thiếu oxy não, bệnh não. Đột quỵ gây hôn mê theo hai cơ chế đầu tiên, gặp trong trường hợp chảy máu não lớn, nhồi máu não diện rộng, nhồi máu hoặc chảy máu thân não, tiểu não. có tỉ lệ tử vong tại Khoa Thần kinh trong 2 năm 1999 – 2000 là 18%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ