CHƯƠNG 1. Sơ lược về họ Cúc (Asteraceae), tông Plucheeae và chi Pluchea Họ Cúc (Compositae hay Asteraceae) là một trong những họ thực vật lớn nhất của nhóm thực vật hạt kín, chủ yếu bao gồm các cây thân thảo, cây bụi và một số ít cây thân gỗ [37]. Đây là một họ thực vật quan trọng cả ở quy mô toàn cầu và tại Việt Nam. Họ Cúc có khoảng từ 1.000 loài, phân bố rộng rãi trên khắp thế giới, tập trung chủ yếu ở các khu vực có khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới [2].
Các cây thuộc họ Cúc chủ yếu là cây thân thảo, hiếm khi là cây gỗ lớn. Rễ của chúng thường phát triển thành củ, lá đơn mọc so le, ít khi mọc đối, có thể tạo thành hình hoa thị và không có lá kèm [36]. Phiến lá thường không nguyên, mà có khía răng hoặc chia thùy. Phần đầu cụm hoa bao gồm nhiều hoa nhỏ, mọc ở kẽ các vảy và được bao bọc bởi một tổng bao lá bắc.
Hoa có năm cánh liền nhau, tạo thành một tràng hoa hình ống hoặc hình lưỡi nhỏ. Năm nhuỵ của hoa dính liền nhau tạo thành một ống bao phấn. Lá noãn gồm hai, bầu hạ một ổ chứa noãn, vòi dài và đầu nhuỵ xẻ đôi, có lông thu. Một số loài trong họ Cúc có ống nhựa mủ, trong khi một số loài khác có ống tiết.
Chất dự trữ trong củ của một số loài là inulin [9]. Dựa trên các nghiên cứu trước đây, họ Cúc tại Việt Nam có 2 phân họ, 13 tông, 114 chi và 325 loài phân bố trải rộng từ vùng đất cát ven biển đến những vùng núi cao trên 3000m. Trong số 325 loài thì có 149 loài đã biết giá trị kinh tế, chiếm khoảng 46% số loài. Cụ thể là 69 loài nhóm cây thuốc, 28 loài nhóm cây cảnh, 12 loài nhóm cây lấy tinh dầu và dầu béo, 30 loài nhóm cây rau ăn, 5 loài nhóm cây phân xanh và 5 loài nhóm cây có tác dụng diệt trừ sâu bọ, côn trùng [2].
Thực vật học họ Cúc được chia thành 13 tông, trong mỗi tông chia ra thành nhiều chi với số lượng khác nhau và mỗi chi lại gồm nhiều loài riêng biệt. Ví dụ, tông Helianthae có 23 chi trong khi tông Eupatoriae chỉ có 4 chi. Đối với tông Plucheeae, chúng gồm có 8 chi, cụ thể bao gồm [18]: − Chi Pluchea: Cúc tần, có khoảng 60 loài bản địa khu vực nhiệt đới, ôn đới ẩm. − Chi Cylindrocline: gồm 2 loài (C.commersonii và Clorencei), chỉ được tìm thấy trên đảo Mauritius, Ấn Độ.
− Chi Porphyrostemma: gồm 3 loài, chỉ tìm thấy ở châu Phi. 1 − Chi Pterocaulon: gồm 20 loài, phân bố chủ yếu ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Australia. − Chi Rhodogeron: gồm 1 loài duy nhất được tìm thấy ở Cuba. − Chi Sachsia: gồm 2 loài, được phát hiện ở Tây Ấn và Florida.
− Chi Sphaeranthus: gồm 34 loài, là chi bản địa của châu Á, châu Mỹ và Australia. − Chi Streptoglossa: gồm 10 loài, là chi bản địa của Australia. Chi Pluchea gồm khoảng 60 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm [39]. Tên khoa học của chi này được đặt theo tên của nhà tự nhiên học người Pháp Noël-Antoine Pluche [26].
Ở Việt Nam, chi Pluchea còn được gọi là chi Cúc tần hoặc chi Lức, chủ yếu phát triển dưới dạng cây bụi và chứa nhiều nhựa. Cụm hoa của các loài trong chi này thường nhỏ, mọc đơn độc hoặc xếp thành chùm ngũ, với đỉnh tràng có 2-3 răng màu vàng nhạt hoặc tím hồng, hoa hữu thụ, trong khi lá hoa có hình dáng lưỡng tính dạng phễu hoặc lép, đỉnh tràng có 5 thuỳ. Đế hoa phẳng và trần.