Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phẫu thuật mổ lấy thai (MLT) là phương pháp phẫu thuật nhằm đưa thai nhi và phần phụ của thai ra khỏi buồng tử cung thông qua đường rạch ở thành bụng và thành tử cung. Cùng với sự phát triển của y học hiện đại, các tiến bộ trong kỹ thuật phẫu thuật, gây mê hồi sức, kiểm soát nhiễm khuẩn và thuốc kháng sinh đã nâng cao độ an toàn của thủ thuật, mở rộng chỉ định can thiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ mổ lấy thai trên thế giới và tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây. Sự gia tăng này không chỉ bắt nguồn từ các yếu tố bệnh lý sản khoa thuần túy mà còn chịu tác động từ các yếu tố xã hội, tâm lý thai phụ và sự phổ biến của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (HTSS).

Việc gia tăng tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ sinh con lần đầu (con so) để lại nhiều hệ quả lâu dài cho sức khỏe sinh sản. Vết sẹo mổ cũ trên cơ tử cung làm gia tăng nguy cơ tai biến trong những lần mang thai tiếp theo như: chửa tại sẹo mổ, rau tiền đạo, rau cài răng lược, vỡ tử cung và nguy cơ phải tiếp tục mổ lấy thai ở các lần sinh sau. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và phân tích các chỉ định mổ lấy thai con so là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc quản lý và kiểm soát chỉ định phẫu thuật.

Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ y đa khoa của tác giả Đỗ Thị Như Quỳnh (Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2022) được thực hiện nhằm giải quyết 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm của nhóm thai phụ mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021.
  2. Nhận xét một số chỉ định và kết quả mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các sản phụ mang thai con so có tuổi thai từ đủ 22 tuần trở lên, được thực hiện phẫu thuật mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong năm 2021, có hồ sơ bệnh án điện tử đầy đủ thông tin theo yêu cầu nghiên cứu.
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (bệnh viện chuyên khoa Sản phụ khoa tuyến cuối).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu các ca bệnh diễn ra từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021; thời gian tiến hành trích xuất và phân tích bệnh án từ tháng 04/2022 đến tháng 06/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết sản khoa kinh điển và các quy chuẩn chuyên môn hiện hành:

  • Cơ sở giải phẫu - sinh lý học: Sự biến đổi hình thái và cấu trúc của thân tử cung, cổ tử cung và eo tử cung trong thời kỳ thai nghén và chuyển dạ; đặc điểm giải phẫu đoạn dưới tử cung phục vụ kỹ thuật mổ ngang đoạn dưới nhằm bảo tồn tối đa cấu trúc cơ tử cung và phúc mạc che phủ.
  • Phân loại chỉ định mổ lấy thai: Dựa trên phân loại lâm sàng của GS. Đinh Văn Thắng và y văn chuyên ngành, chia thành chỉ định mổ chủ động (trước chuyển dạ) và chỉ định mổ trong chuyển dạ; phân nhóm theo 05 nguyên nhân chính: nguyên nhân do thai, do phần phụ của thai, do đường sinh dục của mẹ, do bệnh lý toàn thân của mẹ và do lý do xã hội.
  • Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát mô tả hồi cứu (retrospective descriptive study).
  • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Tác giả đã thu thập và đưa vào phân tích chi tiết 510 hồ sơ bệnh án của sản phụ con so mổ lấy thai thỏa mãn đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và không thuộc tiêu chuẩn loại trừ (loại trừ các trường hợp thiếu dữ liệu cơ bản hoặc mổ từ tuyến dưới chuyển đến).
  • Kỹ thuật thu thập và xử lý dữ liệu: Trích xuất dữ liệu hồi cứu từ hệ thống bệnh án điện tử của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội thông qua phiếu thu thập thông tin chuẩn hóa. Các biến số nghiên cứu bao gồm: đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, nghề nghiệp, chỉ số BMI), tiền sử sản phụ khoa, tuổi thai, số lượng thai, thời điểm can thiệp mổ, 35 chỉ định phẫu thuật cụ thể, kết quả chỉ số Apgar sơ sinh, cân nặng trẻ, biến chứng phẫu thuật và thời gian hậu phẫu.
  • Phân tích thống kê: Xử lý và phân tích số liệu y sinh học bằng phần mềm SPSS 20.0; tính toán các tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn ($\pm SD$) và thực hiện các kiểm định thống kê y học với mức ý nghĩa $p < 0,05$.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được Hội đồng chấm đề cương Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội và Hội đồng Khoa học Bệnh viện Phụ sản Hà Nội phê duyệt; toàn bộ dữ liệu bệnh án được mã hóa bảo mật, phục vụ thuần túy mục đích nghiên cứu y học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử phát triển của phẫu thuật mổ lấy thai trên thế giới và tại Việt Nam từ phẫu thuật thân tử cung cổ điển đến kỹ thuật mổ ngang đoạn dưới tử cung do GS. Đinh Văn Thắng triển khai; phân tích sâu giải phẫu sinh lý tử cung thai nghén. Tác giả phân loại chi tiết các chỉ định mổ lấy thai con so chủ động và trong chuyển dạ, các kỹ thuật phục hồi cơ tử cung (khâu 1 lớp hoặc 2 lớp bằng chỉ tiêu), các phương pháp vô cảm (ưu tiên gây tê tủy sống, hạn chế gây mê nội khí quản), cùng các biến chứng phẫu thuật (chảy máu, rách bàng quang, tổn thương niệu quản) và biến chứng hậu phẫu (đờ tử cung, nhiễm trùng, dính ruột, tắc vòi tử cung).

Đồng thời, chương này tổng thuật tình hình mổ lấy thai trên thế giới (Hoa Kỳ 30,3%, Ý 38,2%, Mexico 37,8%...) và đối chiếu với các công trình nghiên cứu trong nước qua các thời kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh, Bệnh viện Bạch Mai và các bệnh viện tuyến tỉnh.

Nghiên cứu / Tác giả Địa điểm / Quốc gia Tỷ lệ MLT con so (%)
Tampakoudis P. và CS (1994–2000) Hy Lạp 19,00%
Chin-Yuan Hsu và CS (2000) Đài Loan 21,00%
Lê Thanh Bình (1993) Viện BVBMTSS 24,83%
Vũ Công Khanh (1997) Viện BVBMTSS 32,30%
Vương Tiến Hòa (2002) BVPSTƯ 36,90%
Đỗ Quang Mai (2006) BVPSTƯ 37,09%
Phạm Bá Nha (2008) Bệnh viện Bạch Mai 52,10%
Vũ Mạnh Cường (2014) BV Phụ sản Thái Bình 13,70%
Lê Minh Hải (2019) BVĐK tỉnh Tuyên Quang 31,10%

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chuẩn xác tiêu chuẩn lựa chọn mẫu (sản phụ con so, thai $\ge 22$ tuần, mổ tại viện năm 2021) và tiêu chuẩn loại trừ; chi tiết hóa thiết kế nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 510 bệnh án được trích xuất trong giai đoạn 04/2022 - 06/2022. Chương này định nghĩa rõ ràng 35 chỉ định mổ lấy thai ghi nhận trong mẫu nghiên cứu, phân chia cụ thể các tiêu chuẩn chẩn đoán thai suy (nhịp tim thai bất thường, nước ối lẫn phân su, biến đổi DIP I, DIP II, chỉ số ối), tiêu chuẩn chẩn đoán thai to, khung chậu bất thường, các bệnh lý nội khoa kèm theo và quy trình xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 20.0.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ số liệu thống kê thực chứng thu thập được tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021:

  • Tình hình chung tại bệnh viện: Tổng số ca đẻ năm 2021 là 33.856 ca, trong đó mổ lấy thai chiếm 57,9% (19.598 ca) và đẻ thường chiếm 42,1% (14.258 ca). Tổng số ca đẻ con so là 16.992 ca; tỷ lệ MLT con so trên tổng đẻ con so đạt 37,11% (6.306 ca). Tỷ lệ MLT con so chiếm 18,6% tổng số ca đẻ chung và chiếm 32,1% tổng số ca phẫu thuật lấy thai tại viện.
  • Đặc điểm nhóm nghiên cứu ($n=510$): Độ tuổi trung bình là $26,8 \pm 4,1$ tuổi (từ 16 đến 48 tuổi, tập trung cao nhất ở nhóm 25–29 tuổi với 54,9%); cán bộ, công chức, viên chức chiếm đa số (57,8%); BMI trước mang thai trung bình $20,8 \pm 2,7\text{ kg/m}^2$ (thể trạng bình thường và nhẹ cân chiếm 92,7%, thừa cân béo phì chiếm 7,3%); tuổi thai trung bình $39,2 \pm 1,6$ tuần (thai đủ tháng 37–41 tuần chiếm 93,7%); tỷ lệ mang thai đơn là 93,7%, song thai chiếm 6,3% (32 ca, trong đó có 31 ca nhờ hỗ trợ sinh sản gồm 30 ca IVF và 01 ca IUI).
  • Thời điểm mổ: Mổ trong chuyển dạ chiếm 50,4% (257 ca), mổ chủ động chiếm 49,6% (253 ca), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($p = 0,86 > 0,05$).
  • Phân bố 05 nhóm chỉ định mổ lấy thai:
Nhóm nguyên nhân chỉ định Số ca ($n=510$) Tỷ lệ (%) Chỉ định chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm
1. Do thai 323 63,3% Thai suy: 128 ca (39,2% nhóm thai; 25,1% tổng mẫu); Thai to: 94 ca (28,8% nhóm thai; 18,4% tổng mẫu)
2. Do phần phụ của thai 121 23,7% Ối vỡ non / ối vỡ sớm (OVN/OVS): 91 ca (75,2% nhóm phần phụ; 17,8% tổng mẫu)
3. Do đường sinh dục 81 15,9% Cổ tử cung không tiến triển: 41 ca (50,6% nhóm sinh dục; 8,0% tổng mẫu); Khung chậu hẹp/lệch: 35 ca (43,2% nhóm sinh dục; 6,9% tổng mẫu)
4. Do nguyên nhân xã hội 58 11,4% Vô sinh / con quý / IVF: 32 ca (55,2% nhóm xã hội; 6,3% tổng mẫu); Xin mổ: 20 ca (34,5% nhóm xã hội; 4,0% tổng mẫu)
5. Do bệnh lý của mẹ 48 9,4% Bệnh trĩ, hen...: 18 ca (37,5% nhóm bệnh mẹ); Tiền sản giật / sản giật: 13 ca (27,1% nhóm bệnh mẹ; 2,5% tổng mẫu)

(Ghi chú: Tổng tỷ lệ vượt 100% do một sản phụ có thể có đồng thời nhiều chỉ định).

  • Kết quả sơ sinh và hậu phẫu: Điểm Apgar sau 1 phút $>7$ điểm đạt 98,5% ($n=534$), sau 5 phút đạt 99,4% ($n=539$), không có trường hợp nào có Apgar $<4$ điểm. Tỷ lệ trẻ sơ sinh nam chiếm 58,1%, nữ chiếm 41,9%. Biến chứng ghi nhận sau mổ gồm 10 ca đờ tử cung (chiếm 90,9% trong nhóm biến chứng) và 01 ca nhiễm trùng hậu phẫu (9,1%); không ghi nhận trường hợp chảy máu ngoại khoa, thủng ruột hay tổn thương bàng quang. Thời gian nằm viện trung bình là $2,9 \pm 1,1$ ngày (ngắn nhất 2 ngày, dài nhất 15 ngày, phổ biến nhất là 3 ngày).

Chương 4: Bàn luận

Tác giả đi sâu phân tích, so sánh các chỉ số thu được với y văn trong nước và quốc tế. Tỷ lệ MLT con so 37,11% phản ánh xu thế gia tăng can thiệp ngoại khoa ở các trung tâm sản khoa lớn nhưng vẫn thấp hơn một số nghiên cứu trước đó, chứng minh chỉ định chuyên môn tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội được giám sát tương đối chặt chẽ. Chương bàn luận giải thích sâu các nguyên nhân dẫn đến gia tăng tỷ lệ mổ:

  • Sự gia tăng của các trường hợp can thiệp hỗ trợ sinh sản (IVF, IUI) dẫn đến tỷ lệ đa thai tăng (6,3%), tâm lý "con quý hiếm" thúc đẩy mổ chủ động.
  • Chỉ định mổ do thai suy (chiếm 25,1% tổng mẫu) tăng do việc áp dụng thường quy monitoring sản khoa liên tục trong chuyển dạ, giúp phát hiện sớm biến đổi nhịp tim thai và bất thường nước ối (47,7% dựa vào nhịp tim thai, 43,7% do nước ối lẫn phân su).
  • Phân tích tính tương đối của chỉ định "Cổ tử cung không tiến triển" (chiếm 50,6% nhóm đường sinh dục) chịu ảnh hưởng bởi sự điều chỉnh cơn co tử cung, kinh nghiệm theo dõi chuyển dạ của nhân viên y tế và yếu tố tâm lý lo lắng, kém chịu đựng của sản phụ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định tỷ lệ mổ lấy thai chung tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 là 57,9% và tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ con so là 37,11% trên tổng số đẻ con so.
  • Khẳng định nhóm nguyên nhân do thai là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến chỉ định mổ lấy thai con so (63,3%), trong đó thai suy (25,1%) và thai to (18,4%) chiếm tỷ trọng lớn nhất.
  • Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của can thiệp phẫu thuật: 99,4% trẻ sơ sinh có chỉ số Apgar $>7$ điểm ở phút thứ 5; biến chứng hậu phẫu thấp (đờ tử cung 10 ca, nhiễm trùng 01 ca, không có tai biến phẫu thuật nghiêm trọng); thời gian nằm viện trung bình ngắn ($2,9 \pm 1,1$ ngày).

Đề xuất và giải pháp của tác giả

  • Tăng cường quản lý thai nghén và theo dõi chuyển dạ: Sử dụng hiệu quả máy monitoring sản khoa để đánh giá chính xác tình trạng suy thai thật sự, tránh chỉ định mổ quá sớm hoặc chẩn đoán quá mức; kiên trì theo dõi chuyển dạ ở các trường hợp cổ tử cung tiến triển chậm.
  • Hạn chế chỉ định mổ vì lý do xã hội: Đẩy mạnh tư vấn tâm lý cho sản phụ và gia đình, giải thích rõ các lợi ích của đẻ đường âm đạo tự nhiên và các nguy cơ tiềm ẩn của sẹo mổ tử cung trong tương lai; siết chặt quy trình duyệt mổ theo yêu cầu hoặc chọn giờ sinh.
  • Kiểm soát can thiệp hỗ trợ sinh sản: Đề xuất giảm số lượng phôi chuyển trong một chu kỳ thụ tinh ống nghiệm (ưu tiên chuyển đơn phôi) nhằm giảm thiểu tỷ lệ đa thai, từ đó hạ thấp nguy cơ phải can thiệp mổ lấy thai.

Đóng góp học thuật và thực tiễn

Công trình cung cấp bức tranh dịch tễ học lâm sàng toàn diện, cập nhật số liệu năm 2021 về thực trạng mổ lấy thai con so tại một trong những bệnh viện chuyên khoa sản phụ khoa đầu ngành của Việt Nam. Dữ liệu thực chứng của khóa luận đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các nhà quản lý sản khoa trong việc xây dựng hướng dẫn chẩn đoán, kiểm soát và chuẩn hóa các chỉ định mổ đẻ lần đầu.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp hồi cứu mô tả dựa trên bệnh án điện tử sẵn có, do đó thông tin phụ thuộc vào tính đầy đủ và chính xác của việc ghi chép hồ sơ lâm sàng. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện trong khoảng thời gian nhất định (510 ca) chưa bao quát toàn bộ 6.306 ca mổ con so của năm 2021. Nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả sớm trong thời gian nằm viện, chưa có dữ liệu theo dõi dọc dài hạn sau xuất viện và ảnh hưởng của sẹo mổ tử cung đến các lần mang thai sau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn; triển khai các nghiên cứu đoàn hệ (cohort) theo dõi dọc tình trạng sản phụ có sẹo mổ lấy thai con so ở các thai kỳ kế tiếp nhằm đánh giá tỷ lệ rau cài răng lược, chửa sẹo mổ cũ và kết cục sản khoa dài hạn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên y đa khoa, học viên chuyên khoa Sản phụ khoa, bác sĩ nội trú và các bác sĩ lâm sàng công tác tại các cơ sở y tế chuyên khoa Phụ sản và khoa Sản các bệnh viện đa khoa.
  • Nội dung giá trị: Khóa luận là tài liệu tham khảo chi tiết về:
    1. Khung phân loại 35 chỉ định mổ lấy thai con so và phương pháp thống kê biến số y học sản khoa.
    2. Dữ liệu thực tế về chẩn đoán thai suy, cổ tử cung không tiến triển và tác động của hỗ trợ sinh sản đến phương thức sinh.
    3. Cơ sở thực chứng phục vụ xây dựng chỉ số kiểm soát chất lượng mổ lấy thai tại các cơ sở y tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 là bao nhiêu?
Theo số liệu toàn viện năm 2021, tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ con so chiếm 37,11% trên tổng số sản phụ đẻ con so (6.306/16.992 ca) và chiếm 18,6% trên tổng số lượt đẻ chung toàn viện.

2. Nhóm chỉ định mổ lấy thai con so nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu?
Nhóm nguyên nhân do thai chiếm tỷ lệ cao nhất với 63,3% ($n=323$), trong đó hai chỉ định chiếm tỷ trọng lớn nhất là thai suy (39,2% trong nhóm do thai; 25,1% tổng mẫu) và thai to (28,8% trong nhóm do thai; 18,4% tổng mẫu).

3. Trong nhóm nguyên nhân do phần phụ của thai, yếu tố nào dẫn đến chỉ định mổ nhiều nhất?
Ối vỡ non, ối vỡ sớm (OVN, OVS) là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm phần phụ với 75,2% (91/121 ca), tương đương 17,8% trên tổng số sản phụ mổ lấy thai được nghiên cứu.

4. Tỷ lệ song thai trong nhóm nghiên cứu là bao nhiêu và có liên quan như thế nào đến hỗ trợ sinh sản?
Tỷ lệ mang song thai chiếm 6,3% (32 ca trên tổng số 510 ca). Trong đó, có tới 31/32 trường hợp mang thai nhờ can thiệp hỗ trợ sinh sản (30 ca thụ tinh trong ống nghiệm - IVF và 01 ca bơm tinh trùng vào buồng tử cung - IUI), chỉ có 01 ca song thai tự nhiên.

5. Kết quả đánh giá tình trạng trẻ sơ sinh và thời gian nằm viện trung bình sau mổ được ghi nhận như thế nào?
Tình trạng trẻ sau mổ rất tốt với 98,5% đạt điểm Apgar $>7$ sau 1 phút và 99,4% đạt $>7$ điểm sau 5 phút (không có ca nào $<4$ điểm). Thời gian nằm viện trung bình của sản phụ sau mổ là $2,9 \pm 1,1$ ngày, trong đó số ngày nằm viện phổ biến nhất là 3 ngày.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Như Quỳnh đã phản ánh toàn diện thực trạng mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 với tỷ lệ can thiệp chiếm 37,11% tổng số ca đẻ con so. Nghiên cứu chỉ ra rằng các chỉ định do thai (đặc biệt là thai suy và thai to) cùng với các yếu tố phần phụ và hỗ trợ sinh sản đóng vai trò chi phối quyết định phẫu thuật. Mặc dù can thiệp phẫu thuật mang lại kết quả sơ sinh an toàn và tỷ lệ biến chứng sớm thấp, việc nâng cao chất lượng theo dõi chuyển dạ và siết chặt các chỉ định mổ chủ động, chỉ định xã hội vẫn là yêu cầu trọng tâm nhằm kiểm soát tỷ lệ mổ lấy thai lần đầu một cách bền vững.