Nghiên cứu rám má trên phụ nữ có thai và các biện pháp can thiệp

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu rám má trên phụ nữ có thai và một số biện pháp can thiệp, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Da liễu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2015

169
4
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. RÁM MÁ Ở PHỤ NỮ MANG THAI

1.2. CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ RÁM MÁ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.4. XỬ LÍ SỐ LIỆU

2.5. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

2.6. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN RÁM MÁ Ở PHỤ NỮ CÓ THAI

3.2. KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ NỘI TIẾT TỐ ESTRADIOL, PROGESTERONE VÀ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN LÂM SÀNG RÁM MÁ Ở PHỤ NỮ MANG THAI

3.3. ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP RÁM MÁ Ở PHỤ NỮ MANG THAI

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN RÁM MÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI

4.2. KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ NỘI TIẾT TỐ ESTRADIOL, PROGESTERONE VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI LÂM SÀNG RÁM MÁ

4.3. ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP RÁM MÁ Ở PHỤ NỮ MANG THAI

ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu rám má ở phụ nữ mang thai

Rám má, hay còn gọi là nám má, là một tình trạng da phổ biến ở phụ nữ mang thai. Tình trạng này thường xuất hiện do sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể, đặc biệt là sự gia tăng estrogen và progesterone. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ nữ mang thai bị rám má có thể lên đến 70%. Việc hiểu rõ về nguyên nhân và cơ chế hình thành rám má là rất quan trọng để có thể áp dụng các biện pháp can thiệp hiệu quả.

1.1. Nguyên nhân gây rám má khi mang thai

Rám má ở phụ nữ mang thai chủ yếu do sự thay đổi nội tiết tố. Estrogen và progesterone tăng cao trong thai kỳ kích thích tế bào hắc tố sản xuất melanin, dẫn đến tình trạng rám má. Ngoài ra, các yếu tố như di truyền, ánh nắng mặt trời và sử dụng một số loại thuốc cũng có thể góp phần làm tăng nguy cơ bị rám má.

1.2. Tác động của hormone đến rám má

Hormone có vai trò quan trọng trong việc hình thành rám má. Sự gia tăng hormone kích thích tế bào hắc tố (MSH) trong thai kỳ làm tăng sản xuất melanin. Nghiên cứu cho thấy nồng độ estrogen và progesterone cao có liên quan chặt chẽ đến mức độ rám má ở phụ nữ mang thai.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị rám má

Mặc dù rám má không gây nguy hiểm đến sức khỏe, nhưng nó có thể ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tâm lý của phụ nữ mang thai. Việc điều trị rám má trong thời kỳ mang thai gặp nhiều thách thức do sự hạn chế trong việc sử dụng thuốc và liệu pháp điều trị. Các biện pháp can thiệp cần phải đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi.

2.1. Những khó khăn trong điều trị rám má

Việc điều trị rám má ở phụ nữ mang thai gặp khó khăn do nhiều phương pháp điều trị không an toàn cho thai nhi. Các biện pháp như laser hay thuốc tẩy rám thường không được khuyến cáo. Do đó, cần tìm kiếm các phương pháp an toàn và hiệu quả hơn.

2.2. Tác động tâm lý của rám má

Rám má có thể gây ra cảm giác tự ti và lo âu cho phụ nữ mang thai. Nghiên cứu cho thấy rằng tình trạng này có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tâm lý của họ. Việc tìm kiếm giải pháp điều trị không chỉ là vấn đề sức khỏe mà còn là vấn đề tâm lý.

III. Phương pháp can thiệp hiệu quả cho rám má

Để điều trị rám má hiệu quả, cần áp dụng các biện pháp can thiệp an toàn và phù hợp với phụ nữ mang thai. Các phương pháp này bao gồm chống nắng, sử dụng kem bôi và các liệu pháp tự nhiên. Việc kết hợp các phương pháp này có thể giúp giảm thiểu tình trạng rám má một cách hiệu quả.

3.1. Biện pháp chống nắng bảo vệ da

Chống nắng là biện pháp quan trọng nhất trong việc phòng ngừa rám má. Sử dụng kem chống nắng có chỉ số SPF cao và che chắn kỹ càng khi ra ngoài có thể giúp bảo vệ da khỏi tác động của ánh nắng mặt trời, nguyên nhân chính gây rám má.

3.2. Sử dụng kem bôi và thảo dược

Các loại kem bôi chứa azelaic acid, vitamin C và các thành phần tự nhiên có thể giúp làm sáng da và giảm tình trạng rám má. Những sản phẩm này thường an toàn cho phụ nữ mang thai và có thể được sử dụng để cải thiện tình trạng da.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về rám má ở phụ nữ mang thai đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp can thiệp đúng cách có thể mang lại hiệu quả tích cực. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng kem chống nắng và các sản phẩm chăm sóc da phù hợp có thể giúp giảm đáng kể tình trạng rám má.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu tại nhiều quốc gia cho thấy tỷ lệ phụ nữ mang thai bị rám má giảm khi áp dụng các biện pháp can thiệp như chống nắng và sử dụng kem bôi. Các kết quả này cho thấy tầm quan trọng của việc giáo dục và nâng cao nhận thức về chăm sóc da trong thai kỳ.

4.2. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp cho thấy rằng việc kết hợp nhiều phương pháp có thể mang lại kết quả tốt hơn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự kết hợp giữa chống nắng và sử dụng kem bôi có thể giúp cải thiện tình trạng rám má một cách hiệu quả.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu rám má

Nghiên cứu về rám má ở phụ nữ mang thai cần được tiếp tục để tìm ra các biện pháp can thiệp hiệu quả và an toàn hơn. Việc hiểu rõ về cơ chế hình thành và các yếu tố liên quan đến rám má sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho phụ nữ mang thai.

5.1. Tương lai của nghiên cứu rám má

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các sản phẩm chăm sóc da an toàn cho phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu lâm sàng cần được thực hiện để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của các biện pháp can thiệp mới.

5.2. Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏe về chăm sóc da cho phụ nữ mang thai là rất quan trọng. Cần nâng cao nhận thức về các biện pháp phòng ngừa và điều trị rám má để giúp phụ nữ mang thai có thể tự tin hơn trong thời kỳ này.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. RÁM MÁ Ở PHỤ NỮ MANG THAI 1. Sinh lý tạo sắc tố da Màu da bình thường của người thay đổi từ màu trắng, hồng tới màu vàng, nâu, đen. Các thành phần tạo nên màu da bao gồm hắc tố melanin (màu nâu), oxyhemoglobin trong mao mạch trung bì (đỏ), deoxyhemoglobin trong tiểu tĩnh mạch trung bì và hạ bì (xanh dương), carotene (vàng) [10].

Sự phối hợp đa dạng giữa melanin và hemoglobin trong da tạo nên màu sắc của da người. Hắc tố càng dầy đặc, trọng lượng phân tử càng cao, độ tập trung hắc tố càng nhiều thì màu da càng tối [7]. Tế bào hắc tố (melanocyte) Tế bào hắc tố tổng hợp hắc tố nâu (melanin), quy định màu sắc của da và tóc, đồng thời bảo vệ da chống lại tác hại của tia tử ngoại (UVR – ultraviolet ray). Về cấu trúc, tế bào hắc tố có dạng cành cây, được biệt hóa từ nguyên bào hắc tố (melanoblast), có nguồn gốc từ mào thần kinh [11], [12].

Ngay sau khi ống thần kinh đóng lại, các tế bào hắc tố phát triển thành tế bào hoàn chỉnh và di chuyển đến nhiều nơi khác nhau trong cơ thể như mắt (biểu mô hắc tố võng mạc, mống mắt, màng mạch), tai (dải mạch trong ốc tai), hệ thần kinh trung ương (màng mềm), chất nền của tóc, niêm mạc, da [13]. Tín hiệu nào tác động trực tiếp đến quá trình này vẫn đang được nghiên cứu [11], [14]. Ở da, tế bào hắc tố khu trú tại lớp đáy của thượng bì, số ít ở trung bì hướng tua nhánh qua các lớp tế bào biểu mô sừng (keratinocyte) và chuyển các hạt hắc tố cho tế bào này (hình 1. Thuật ngữ “đơn vị hắc tố thượng bì” mô tả một tế bào hắc tố nằm xen giữa 10-12 tế bào đáy và khoảng 36 tế bào biểu mô sừng [14], [15].

Tín hiệu từ các tế bào sừng có chức năng điều hòa sự sống sót, sự mọc tua, sự tạo hắc tố và các thụ thể biểu hiện trên bề mặt của tế bào hắc tố. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Sự phân bố của tế bào hắc tố và “đơn vị hắc tố thượng bì”[16] Mật độ tế bào hắc tố thay đổi khác nhau trong cơ thể. Ở mọi chủng tộc có khoảng > 2.000 tế bào hắc tố trên mỗi millimet vuông trên da đầu và trán, khoảng 1.000 tế bào hắc tố trên mỗi millimet vuông trên da vùng còn lại của cơ thể. Tế bào sừng và yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGF2) điều chỉnh số lượng tế bào hắc tố trong thượng bì.

Số lượng tế bào hắc tố giảm cùng với tuổi. Tại những vùng không tiếp xúc với ánh sáng, chúng giảm khoảng 6% đến 8% mỗi 10 năm. Túi hắc tố (melanosome) Trong bào tương của tế bào hắc tố có chứa các “túi hắc tố” đa phân tử được gọi là melanosome. Túi hắc tố là bào quan đặc biệt hình elip, nơi tổng hợp và dự trữ hắc tố, dự trữ men tyrosinase và xảy ra các hiện tượng sinh hóa hình thành hạt hắc tố (hình 1.

Khi quá trình tổng hợp hạt hắc tố hoàn thành, túi hắc tố chứa đầy hạt hắc tố sẽ được đưa vào trong tế bào sừng bằng cách chuyển đến đầu chóp của các tua tế bào hắc tố, thắt lại và rụng vào khoảng gian bào. Các tế bào sừng kề bên hoặc sẽ thực bào hoặc hòa màng với các túi này. Khi đã vào bên trong tế bào sừng, các túi hắc tố có xu hướng phân tán trong bào tương, phủ lên phần trên của nhân tế bào, giúp bảo vệ tế bào khỏi UVR [11], [12]. Việc hấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thu này tăng tuyến tính ở mức 720-620 nm và sau đó tăng theo cấp số nhân ở những bước sóng ngắn hơn (300-600nm) [17].

Hạt hắc tố có ái lực lớn với DNA. Khi vào bên trong tế bào sừng, các hạt hắc tố làm việc như một máy rà soát những gốc tự do tạo ra do ánh sáng, nhằm bảo vệ DNA tế bào [14], [18]. Tại thượng bì, tế bào sừng liên tục bong ra, cho nên việc tổng hợp và vận chuyển các túi hắc tố từ các tế bào hắc tố đến các tế bào sừng cũng diễn ra liên tục [14] để duy trì hắc tố trên da. 2: Sản xuất và phân bố hạt hắc tố trong thượng bì [16] Người ta thấy rằng, giữa người da trắng và người da đen không có sự khác nhau về số lượng, mật độ tế bào hắc tố, nhưng khác nhau về kích thước và sự phân bố của túi hắc tố trong tế bào biểu mô.

Ở người da sẫm màu thì kích thước túi hắc tố lớn hơn (0,5-0,8 µm) và nằm rải rác trong bào tương, trong khi ở người da trắng thì các túi hắc tố lại có kích thước nhỏ hơn (0,3-0,5µm) và được bọc trong một bao chung [14], [19]. Hắc tố của da Hắc tố melanin là một protein màu (chromoprotein) được tổng hợp từ tế bào hắc tố. Từ những năm 1916-1921, Bruno-Bloch tìm thấy một chất không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 màu là DOPA có khả năng bị oxy hóa thành hắc tố dưới ảnh hưởng của DOPA oxidase [20]. Năm 1953-1954 Fitzpatrick và Lerner đã xác nhận quá trình trên và phát hiện ra một chất khác là tyrosine cũng tham gia vào quá trình tạo hắc tố của da [21].

Quá trình này được tóm tắt như sau: tyrosine (trong máu) + tyrosinase (được hoạt hóa bởi protein-đồng) + tia tử ngoại  tiền hắc tố DOPA + DOPA oxidase + oxy DOPA-quinone và các quinone khác + tyrosine + oxy  melanin. 1: Con đường sinh tổng hợp eumelanin và pheomelanin [20] Cysteine có vai trò trong sự hình thành hắc tố. Sự có mặt hay vắng mặt của cysteine quy định phản ứng tổng hợp eumelanin hay phenomelanin tương ứng. Bước đầu là sản xuất cysteinyldopa.

Sau đó cysteinyldopa bị oxy hóa thành trung gian của benzothiazine, cuối cùng tạo ra pheomelanin. Quá trình sản xuất eumelanin chỉ bắt đầu sau khi cysteinyldopa cạn kiệt. Tỷ lệ giữa pheomelanin và eumelanin được xác định bởi hoạt động của tyrosinase và cysteine. Khi không có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cysteine (glutatione), dopaquinone được biến đổi thành cyclodopa (leukodopachrome), rồi thành dopachrome.

Có hai con đường suy thoái dopachrome, một là từ DHI (dopa 5,6 dihydroxyindole) với một tỷ lệ lớn hơn, hai là từ DHICA (5,6 dihydroxyindole-2-carboxylic acid) với tỷ lệ thấp hơn, DCT xúc tác quá trình này (Tyrp 2-DCT). Cuối cùng, những dihydroxyindoles này được oxy hóa thành melanin (sơ đồ 1. Eumelanin là hợp chất cao phân tử có tính kiềm, màu nâu, không tan. Eumelanin có thể bị oxy hóa khi có các ion kim loại và tạo thành hắc tố sáng màu hơn [10], [17].

Eumelanin hấp thu và phân tán tia cực tím, giảm mức độ xâm nhập và tác hại của ánh nắng vào da [22]. Pheomelanin là hắc tố có tính kiềm, vàng nhạt. Pheomelanin có thể bị oxy hóa và tạo ra các gốc tự do dưới tác động của UVR, gây hại cho DNA. Điều này giải thích lý do vì sao người da sáng màu (nhiều pheomelanin) dễ bị bỏng nắng và có nguy cơ cao bị tổn thương DNA tế bào da do UVR, bao gồm cả u tân sinh (neoplasm) [17], [18].

Fitzpatrick (1975) đã phân loại da thành 6 type dựa vào màu sắc da và đặc điểm phản ứng với ánh nắng của da: Type da Màu sắc da Đặc điểm Da trắng, tóc đỏ hay vàng, mắt xanh Luôn luôn bỏng nắng, I nước biển, có tàn nhang không bao giờ rám nắng Da trắng, tóc đỏ hay nâu, mắt màu xanh Thường bỏng nắng, khó rám II nước biển, xanh nâu hay xanh lá cây nắng Da màu kem, tóc màu, mắt vàng (hay Thỉnh thoảng bỏng nắng, III gặp) đôi khi rám nắng Da nâu, hay gặp người Châu Âu hay Hiếm khi bỏng nắng, dễ rám IV người ở vùng Địa Trung Hải nắng Da nâu-sẫm, hay gặp ở người Trung Rất hiếm khi bỏng nắng, rất V Đông dễ rám nắng Không bao giờ bỏng nắng, VI Da đen rất dễ rám nắng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Rám má Rám má là tình trạng tăng hắc tố mắc phải, thường gặp trên vùng da tiếp xúc với ánh nắng. Bệnh tiến triển mạn tính với nhiều đợt tái phát thường xuyên và thường rất khó điều trị [23]. Một số đặc điểm dịch tễ - Tỉ lệ rám má khác nhau ở từng quốc gia và thay đổi theo từng nghiên cứu.

Tại Hoa Kỳ có khoảng 5 - 6 triệu người bị rám má [24]. Ở châu Á, tỉ lệ rám má dao động từ 0,25% - 4% tại bất kỳ phòng khám chuyên khoa Da Liễu nào [25]. Rám má cũng thường gặp tại các nước nói tiếng Tây Ban Nha, chiếm 12. - Tuổi trung bình bị rám má là 30 - 40 [5].

Trong một nghiên cứu toàn cầu cho thấy tuổi trung bình bị rám má là 34 [27]. Theo Nguyễn Văn Thường tuổi trung bình khởi phát bệnh là 38,5 [28]. - Rám má thường gặp phổ biến hơn ở phụ nữ (90%), mặc dù đàn ông cũng có thể bị (10%) [2], [29]. - Tất cả mọi chủng tộc đều có thể mắc rám má, thường gặp nhất ở những người có type da IV-VI theo phân loại da của Fitzpatrick như người Mỹ La-tinh, Đông Nam Á [24].

- Fitzpatrick TB, Pathak MA cho thấy có đến 30% rám má liên quan đến thai sản, khoảng < 20% có liên quan đến dùng thuốc tránh thai [30]. - Một số yếu tố liên quan cũng được đề cập đến là nghề nghiệp. Tại vùng bờ biển Nam Ấn Độ, rám má chiếm 41% công nhân làm việc ngoài đồng ruộng [31]. Lê Tử Vân và cộng sự (1985) nghiên cứu tình hình bệnh da có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp ở nhà máy dệt 8/3 cho thấy công nhân phải làm việc trong điều kiện có rất nhiều bụi bông, bụi nhà thì ngoài bệnh sẩn ngứa, mày đay, viêm da cơ địa, bệnh sạm da chiếm tỷ lệ là 2,99% [32].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại rám má - Dựa trên lâm sàng, có thể phân rám má thành những thể sau (hình 1.3) [27], [33] + Thể trung tâm mặt: liên quan má, trán, môi trên, mũi, cằm. Kiểu này gặp ở hầu hết bệnh nhân (63%) + Thể cánh bướm: tăng hắc tố khu trú ở má và mũi, chiếm 21%. + Thể hàm dưới: liên quan vùng dưới hàm, chiếm 16% trường hợp Hình 1.

Thể trung tâm mặt. Thể cánh bướm. Thể hàm dưới [34] - Dựa trên mô học và soi đèn Wood’s + Dạng thượng bì: Chiếm 70-90% trường hợp, vị trí lắng đọng hắc tố chủ yếu ở màng đáy, lớp tế bào đáy, đôi khi trong lớp gai và lên đến lớp sừng. Khi soi đèn Wood thì vùng da tăng hắc tố đậm màu hơn và tương phản rõ với vùng da lành xung quanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ