TRAN THUY - TS. LE THI HIEN KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI SAN PHU KHOA Y HOC CO TRUYEN NHA XUAT BAN Y HOC HA NOI - 2002 LOI NOI DAU Sản phụ khoa Y học cổ truyền đã được Hải Thượng Lan Ong dé cap đến trong các trước tác của mình như tập Toạ thảo lương mô (những phương pháp tốt khi sinh để), Phụ đạo xán nhiên (chuyên về phụ khoa). Các tác giả đã làm sáng tỏ những vấn để từ y lý đến đặc điểm diéu trị bệnh phụ khoa. Để phục vụ cho vấn để đào tạo, chúng tôi mạnh dạn biên soạn cuốn "Sản phụ khoa Y học cổ truyền " cuốn sách bao gồm các nội dung sau: Phần thứ nhất: Thừa kế Phần thứ hai: Hệ thống hoá đặc điểm về lý luận và lâm sàng sản phụ khoa.
Vì tài hiệu biên soạn lần đầu nên chắc chấn có nhiều thiếu sót, rất mong các đồng nghiệp và bạn đọc xa gần góp ý để tài liệu được hoàn chỉnh hơn trong lần xuất bản sau. CÁC TÁC GIÁ PHAN THU NHAT THUA KE A. TOẠ THẢO LƯƠNG MÔ “Toa thao lương mô" hay "Những phương pháp tốt khi sinh đẻ" là một tập trong pho Lăn Ông Tâm Lĩnh của Hải Thượng Lãn Ông. Tập này tiếp theo tập "Phụ đạo xán nhiên" và chuyên về sản phụ khi sinh đề.
Trong lời nói đầu Hải Thượng viết: Quy luật sinh hoá của thiên nhiên rất màu nhiệm, âm dương bốn mùa sinh trưởng hoá sinh, vạn vật đều có sự phân biệt khác nhau huống gì đối với con người há không có sự nuôi dưỡng chu đáo hay sao ?. Phụ nữ khi nằm chỗ (sinh để) sự an nguy sống chết chỉ trong nháy mắt chẳng khác gì một chiếc thuyền đang vượt biển khơi, chỉ khi nào cập bến mới là bình yên thực sự. Vậy thì người thầy thuốc không thể không phát huy trí sáng tạo. nhằm phục vụ cho sinh mạng con người đang nằm trong tay, trong khi tháng thốt vội vàng tránh sao khỏi sai lầm thiếu sót.
Và lại sự ghi chép trong các sách thuốc (trước thời Hải Thượng) rất rườm rà, được cái nọ mất cái kia. Cho nên Hải Thượng thấy cần phải chú trọng vào các bệnh nguy cấp để soạn thành một tập, chia môn xếp mục cho có thứ tự, có hệ thống rành mạch để người đọc xem qua là có thể hiểu ngay, đặt nhan để là "Toạ thảo lương mô" (nghĩa là những phương pháp tốt khi sinh đẻ, còn các chứng thai tiển, sản hậu khác không đến nỗi nguy cấp lắm thì không viết vào đây." MƯỜI ĐIỀU KHUYÊN DẠY KHI SINH ĐẺ 1. Có thai và sinh đẻ là hiện tượng tự nhiên bình thường của phụ nữ, nếu thai phụ khoẻ mạnh khí huyết sung túc, tỉnh thần đầy đủ, thư thái thì việc sinh để tự nhiên như người ngủ tỉnh dậy, thai có xu thế tự nhiên tìm đường ra. Nếu thai yếu thì nên bổ khí dưỡng huyết.
Khi sinh để cần được bà đỡ lành nghề, sản phụ không nên rặn sớm quá. Thang "Bảo sản vạn toàn" giúp cho khí huyết lưu thông, uống khi sắp đẻ và sau khi đẻ đều thích hợp. Khi sắp đẻ, sản phụ cần an tâm định chí thoải mái tự nhiên, đừng lo sợ, lo ăn uống đây đủ nghỉ ngơi sinh hoạt tự nhiên, gắng chịu đau. Bình thường thì đến thời điểm chín muổi thì tự nhiên đẻ như người đi đại tiện, như quả chín tự nhiên rụng.
Người đữ không được thấy sản phụ kêu đau mà ép rặn (để) sớm quá, đến khi thai xuống sản phụ không còn sức rặn đẩy thai ra. Khi sắp để không nên nằm co mà ngủ, nên gượng dậy đi lại trong phòng. Đến lúc đẻ cần để tự nhiên không nên thúc đục, sản phụ mà rặn đúng lúc như chờ cho quả chín thì cuống sẽ tự nhiên rụng. Cần chọn bà đỡ trung hậu, lão thành, tác phong thư thả bình tĩnh.
Người đỡ cần biết phân biệt giữa tình hình cơn đau giục giã với tình hình sắp đẻ thật sự. Sản phụ phải giữ sức đừng vội rặn sớm quá mà đuối sức, đợi khi con tới cửa mình thì chỉ rặn một hơi là con ra. Sắp đẻ chớ nên bói toán cầu cúng mà hoang mang. Sắp đẻ nên ăn cháo trắng đặc nhừ, đừng ăn đồ cứng lạnh khó tiêu, đừng để đói khát nhưng chớ ăn no mà chỉ để hơi đói là tốt.
BAY NGUYEN NHAN KHO DE Vì nhàn rỗi quá làm cho khí huyết kém lưu thông, thường thấy phụ nữ nông thôn lao động chân tay lại đẻ dễ. Vì bồi dưỡng ăn uống thừa quá, thường thấy phụ nữ ăn uống sinh hoạt bình thường lại đẻ đễ. Vì ham dâm dục làm thai động hao tổn khí huyết. Thường 3 tháng đầu và 3 tháng cuối thai đễ bị ảnh hưởng hơn.
Vì lo sợ hoang mang. Vì nhút nhát, nhất là ở sản phụ để con so hoặc sản phụ tuổi cao. Vi qua sợ hoảng hốt, vội rặn sớm thai ra không bình thường. Vì đuối sức rặn sớm quá nên dùng Bổ huyết thôi sinh thang và Bảo sản vạn toàn thang.
BA PHÉP CHỮA CHỦ YẾU 1: Phép thôi sinh Đau để đã lâu sản phụ đã mệt mỏi hoặc lúc sắp đẻ đầu thai đã xuống đến cửa mình thì uống thuốc bổ trợ khí huyết, Phép điều trị chủ yếu là thuốc trơn hoạt để khai thông, thuốc ấm để khử hoặc thư thái các kinh, thuốc thơm để khai khiếu thông huyết. Khí trệ huyết khô thì kịp bối bổ tỉnh huyết, mỏi mệt phiển thì cho Nhân sâm nhưng thuốc phải đúng lúc không được dùng ấu, sớm quá như các thuốc hành khí thông huyết. Thôi sinh chẳng qua là bổ trợ khi để mà thôi. Phép hoạt thai Đả dễ là nhờ huyết đầy đủ, huyết kém thì để khó nên bổi dưỡng khí huyết làm chủ để phòng trước.
Nhưng chớ dùng thuốc hoạt lợi sớm quá mà gây nên huyết suy khí hãn, với sản phụ khoẻ mạnh thì chọn dùng bài Thúc thai (lam gon thai) hoặc Sấu thai (lam gay thai). Các bài thuốc bồi đưỡng Tứ vật, Hoạt thai, Bát trân Ngũ phúc, Tiểu dinh. —__ Các bài thuốc Thúc thai như: Tử tô ẩm (6) Bảo sinh vô ưu. —_ Các bài thuốc Sấu thai như: Sấu thai chỉ xác tán (4).
BỐN PHƯƠNG THUỐC DÙNG KHI SẮP ĐẺ 1. Đạt sinh tán (Bảo sản) Ích mẫu 4g Đương quy vĩ (sao rượu) 4g Xuyên khung 4g Bạch thược 4g Trần bì 3g Bạch truật 3g 'Tô ngạnh 3g Phúc bì 3g Nhân sâm 2g Phục linh 2g Chích thảo 12g Gừng tươi 1g Khi sắp đẻ uống 2 - 3 thang để lưu thông khí huyết. Gia giảm tuỳ theo tình trạng khí huyết hư thực, thời tiết nóng lạnh. Thúc thai hoàn (Tế âm) Đến tháng đẻ có thể uống để gọn thai Bạch truật Phân lượng bằng nhau Chỉ xác Tán nhỏ luyện với cơm làm viên uống trước bữa ăn với nước ấm (viên bằng hạt ngô đồng - liều dùng 3ð viên) 8.
Thúc thai tán (CẨm nang) Điều cầm (sao rượu) 40g Bạch truật (kiêng lủa) 80g Tran bi 120 g Phục lình 28g Tán nhỏ luyện với nước cơm làm viên bằng hạt ngô đồng, liều dùng ð0 - 60 viên uống với nước ấm, xa bữa ăn. Sấu thai chỉ xác tán Có thai 7 - 8 tháng uống để gon thai dé dé. Chỉ xác 200 g(sao cám) Chích thảo 40 g(tan bét) Uống véi nuéc néng liéu 4g /ngay €ó tài liệu gia thêm Hương phụ. Hải Thượng nói Chỉ xác đắng lạnh, lạnh thai nên sắc nước Thục địa Đương quy làm thang để uống.
Hải Thượng nói cần xét kỹ hư, thực để dùng thuốc đúng, nếu phiến diện dàng Chỉ xác phá khí sẽ làm thai yếu lại gây nên đẻ khó. Ngay đối với sản phụ béo khí thịnh Hải Thượng cũng chỉ dùng bài Thúc thai tán mà cũng không dám cho uống hết thang nếu thấy tiểu tiện đã không lợi thì thôi. 8 BẢY PHƯƠNG KHI Ở CỬ 1. Bảo sản vạn toàn Bài Đạt sinh tán dùng được lúc trước đẻ.
Bài Sinh hoá thang dùng được lúc sau đẻ. Nay dựa vào ý của 2 bài này hợp lại xây dựng nên bài Bảo sản vạn toàn. Nhân sâm 10 - 20g Ngưu tất 3g Đương quy 10g Chích thảo 25g Xuyên khung 4g Hồng hoa 1,28 Can khương 1g Nhục quế 25g Đào nhân 12 hạt Bài này điều bổ khí huyết làm chủ kiêm ôn trung tán đồm, đưa xuống khiến nguyên khí mạnh lên không thúc mà hoá tự nhiên đẻ. Tử tô ẩm (y học) 'Tủ tô 2g Nhân sâm 8g Trần bì 2g Cam thảo 8g Bạch thược 2g Gừng tươi 3 lat Xuyên khung 2g Hành trắng 3củ Đại phúc bì 2g Bài này dùng uống khi sản phụ lo sợ khí ở hạ tiêu bức bách trướng đầy mà không thông.
Chi cam tán (y học) như bài Sấu thai chỉ xác tán ở trên. Dat sinh tan (y học): Công thức bài thuốc ở sách này có khác với bài Đạt sinh tán (Bảo sản) ở trên, uống khi ra huyết. Hoàng cầm 4g Đại phúc bì 8g Bạch truật 4g Cam thảo 8g Đương quy 4g Hoàng dương não 1 cái Hành trắng 5 củ Nhân sâm 28 Trần bì 2g 'Tía tô 3g 5. Cé khung quy thang (y học) Còn có tên là Phật thủ tán, dùng cả trong thai tiển, sản hậu.
Đương quy 8-12g Xuyên khung 8-12g Sắc xong chế vào ít rượu uống. An thai ẩm (Bảo sản) Đương quy 4g Bạch thược 4g Sinh địa 4g Bạch truật 4g Nhân sâm 4g Trần bì 4g Xuyên khung 4g Tử tô 4g Sa nhân 4g Tử cầm 4g Cam thảo 4g Ging tuoi 3 lat Sắc uống. Độc sâm thang Nhân sâm tuỳ trường hợp mà dùng, chưng cách thuỷ. MỘT SỐ PHƯƠNG THUỐC GIỤC ĐẺ Cảnh Nhạc nói: nếu nước ối đã vỡ 1 - 2 giờ mà chưa để nên cho uống các bài thuốc giục để như Thoát hoa tiễn, Hoạt thai ẩm, Ích mẫu hoàn.
Thoát hoa tiễn (Cảnh Nhạc) Đương quy 24g Ngưu tất 4g Nhục quế 12g Xa tiền 6g Xuyên khung 4g Hồng hoa 4g Thúc đẻ thì bỏ Hồng hoa. Khi hu suy gia Nhân sâm. Âm hư gia Thục địa. Hoạt thai ẩm (Cảnh Nhạc) Đương quy 12g Đỗ trọng 4g Xuyên khung 3g Sơn dược 6g Thục địa 12g Chỉ xác 3g 10 Khí hư thể chất yếu gia Nhân sâm.
Táo bón gia Ngưu tất. Ích mẩu hoàn (Cảnh Nhạc) còn gọi là Phản hỗn đơn. Ích mẫu thảo hoa tím, tán nhỏ luyện mật ong làm viên uống với rượu ấm, đồng tiện (nước tiểu trẻ em). Sâm quy (khung) thang Đảng sâm 20g Đương quy 12g Xuyên khung 8g Người hư yếu, khớp chậu mở kém dùng "Mai rùa" tán bột cho uống.
Lại tô tán Mộc hương 4g Hoang ky 4g Thần khúc 4g A giao 4g Trần bì 4g Bạch thược 4g Nhu mễ (gạo nếp) 20 - 40g 6.