Chương 1: Tổng quan về đặc điểm nhân trắc ngực, áp lực và độ tiện nghi áp lực của áo ngực nữ - Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận. TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN TRẮC NGỰC, ÁP LỰC VÀ ĐỘ TIỆN NGHI ÁP LỰC CỦA ÁO NGỰC NỮ 1. Đặc điểm nhân trắc ngực nữ 1. Cấu tạo ngực nữ Bầu ngực là bộ phận cơ thể có chức năng quan trọng liên quan đến sinh sản, nuôi con và mang lại vẻ đẹp cho phụ nữ.
Hai bầu ngực nằm trên ngực, phát triển ở tuổi dậy thì, có thể thể tích và hình dạng thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, sau khi cai sữa và mãn kinh của người phụ nữ [1]. Cấu tạo bầu ngực được thể hiện trên hình 1. Giải phẫu bên trong tuyến ngực nữ [1] 1. Thùy tuyến ngực 4.
Ống góp - xoang sữa 7. Mô mỡ dưới da 8. Nếp ngực dưới – Nếp lằn ngực Bầu ngực gồm phần chính các mô mỡ và mô collagen và có liên quan với kích thước bầu ngực. Điểm đầu ngực (núm vú) có chứa mao mạch và nhiều dây thần kinh điều khiển các chức năng tiêu hóa và tiết mồ hôi.
Quầng ngực có những nốt nhỏ, không có lông, phía dưới là các tuyến chất nhờn. Da vùng bầu ngực thường là mỏng, dễ biến dạng. Các thông số cấu trúc và sinh lý học của phần ngực được đo lường tùy theo mục đích nghiên cứu và ứng dụng. Các kích thước của ngực phụ nữ được quan tâm trong nghiên cứu nhân trắc phần ngực, xây dựng hệ thống cỡ số, thiết kế, sản xuất và lựa chọn áo ngực và một số ứng dụng khác.
Phân loại ngực nữ Ngực phụ nữ rất đa dạng, được phân loại dựa trên hình dáng bầu ngực hoặc các kích thước cơ bản. Các kích thước đặc trưng của phần ngực nữ sinh là cơ sở quan trọng để phân nhóm ngực nữ. Một số nghiên cứu về hình dáng ngực và phân loại ngực phụ nữ đã được thực hiện theo đặc điểm lứa tuổi và đặc trưng vùng miền. Martin phân chia ngực nữ thành 4 loại: Ngực phẳng, ngực bán cầu, ngực nón và ngực giọt nước dựa trên hình dạng bầu ngực (Hình 1.
5 (a) Ngực phẳng (b) Ngực bán cầu (c) Ngực hình nón (d) Ngực giọt nước Hình 1. Phân loại 4 hình dạng ngực nữ [2] Ngực phẳng có chiều dài bầu ngực khoảng 3-5cm, ngắn hơn bán kính của gốc bầu ngực. Ngực bán cầu có chiều cao bầu ngực khoảng 5-6cm, gần với bán kính bầu ngực gốc, trong khi bầu ngực hình nón có chiều dài ngực lớn hơn 6cm và lớn hơn bán kính của bầu ngực. Bầu ngực hình giọt nước có điểm đầu ngực thấp hẳn xuống phía dưới [2].
Viện Khoa học Con người Wakoru Nhật Bản phân loại ngực nữ thành 6 nhóm: ngực phẳng, ngực hình nón, ngực bán cầu, ngực nhô ra, giọt nước 1 và giọt nước 2 [3]. Phân loại 6 hình dạng ngực nữ [3] Hình dạng ngực cũng được phân thành 12 loại dựa trên đặc điểm hình dạng ngực [4] như phụ lục 1. Lim và cộng sự đã nghiên cứu kích thước cup áo ngực và phân loại ngực theo chu vi và thể tích [5]. Sự hài lòng khi mặc áo ngực của 182 phụ nữ ở độ tuổi hai mươi đã được phân tích.
Kết quả cho thấy sử dụng chu vi ngực để thiết lập kích thước cup là phù hợp. Ngực nữ được phân nhóm dựa trên chu vi ngực và thể tích ngực. Theo thể tích ngực, các nhóm ngực nữ bao gồm: ngực phẳng có thể tích bầu ngực dưới 200cc, ngực hình nón từ 200 ÷ 300cc và 300 ÷ 400cc, ngực bán cầu nhỏ hơn 200cc và 200 ÷ 300cc, 300 ÷ 400cc, ngực nhô ra là 200 ÷ 300cc, 300 ÷ 400cc, 400cc trở lên, ngực giọt nước 400cc. Thể tích và chu vi ngực có tương quan với nhau [6].
Rong Zheng và cộng sự [7] đề xuất một hệ thống cỡ số áo ngực cho phụ nữ Trung Quốc trong đó sử dụng vòng chân ngực và tỷ lệ chiều rộng/chiều sâu ngực làm các thông số chủ đạo của cỡ số. Hình dạng ngực được phân loại dựa trên 8 thông số: chỉ số khối BMI, thể tích ngực, cung ngực trong, cung ngực ngoài, chiều cao, hướng của đầu ngực (nhũ hoa), độ dốc trên ngực, hình dạng ngực dưới. Trong đó trọng số của BMI chiếm 23,5%, thể tích chiếm gần 20%. Hai yếu tố này chiếm tỷ lệ cao hơn các yếu tố khác.
Trong số các thông số liên quan đến hình dạng ngực thì vòng chân ngực và tỷ lệ độ sâu/rộng ngực là quan trọng nhất [7]. Phân loại ngực theo 8 thông số [7] BMI Thể tích ngực Cung ngực trong Cung ngực ngoài Béo (+) Gầy (-) Lớn (+) Nhỏ (-) (+) Rộng (-) Hẹp (+) Rộng (-) Hẹp Chiều cao cơ thể Hướng của nhũ hoa Độ dốc ngực trên Hình dạng ngực dưới Cao (+) Thấp (-) Ngoài (+) Trong (-) Võng (+) Thẳng (-) (+) Tròn (-) Phẳng Hình 1. Đo kích thước rộng ngực và sâu ngực trên mặt cắt ngang cơ thể [7] Kweon và Sohn đã phân loại ngực của phụ nữ ở độ tuổi hai mươi thành ngực phẳng, ngực nón, ngực bán cầu, ngực nhô ra và ngực giọt nước (hình 1. a) Ngực phẳng b) Ngực nón c) Ngực bán cầu đ) Ngực nhô ra e) Ngực giọt nước Hình 1.
Phân loại 5 hình dáng ngực[6] Cho và Sohn đã phân loại ngực phụ nữ độ tuổi 20 thành ngực lớn, ngực trung bình, ngực nhỏ [8]. Lim đã phân nhóm ngực thành 3 loại: 75A, 75AA, và 75B [5]. 7 Một nghiên cứu khác chia thành 4 nhóm. Loại ngực phẳng có khoảng cách giữa 2 núm vú ngắn nhất, độ sâu và chiều dài của ngực nhỏ nhất, kích thước và phần nhô ra của ngực là thấp nhất.
Ngực trên là ngực phát triển có độ sa ngực trên dài hơn sa ngực dưới, độ sa ngực trên lớn hơn bán kính ngực và phần bầu ngực trên phát triển hơn so với phần bầu ngực dưới của ngực. Ngực dưới có phần bầu ngực dưới phát triển hơn bầu ngực trên. Ngực nhô ra có khoảng cách ngắn nhất giữa ngực trong và đường kính ngực dưới, nhưng chiều dài đường viền của ngực là lớn nhất trong tất cả các loại. Nhìn chung, ngực nhô ra có bầu ngực lớn và nhô về phía trước [9].
Ngực phẳng Ngực trên Ngực dưới Ngực nhô Hình 1. Phân loại 4 hình dạng ngực [9] Tác giả Trần Thị Minh Kiều và cộng sự đã khảo sát hình dạng bầu ngực của nữ sinh Bắc Việt Nam lứa tuổi 18-25 và sự phù hợp hình ảnh ngoại quan của một số dạng áo ngực với các dạng bầu ngực của nữ sinh Bắc Việt Nam [10]. Nghiên cứu dựa trên đánh giá cảm nhận của người mặc và đánh giá chuyên gia về sự vừa vặn của cup áo ngực với các dạng bầu ngực. Tác giả Phạm Thị Thắm và cộng sự nghiên cứu về ảnh hưởng của góc ngực tới thiết kế áo ngực nữ.
Chỉ số hình dáng đã được xác định dựa trên góc ngực và một vài kích thước khác [11]. Các nghiên cứu trên về đặc điểm nhân trắc và phân loại ngực nữ đã được thực hiện với nhiều lứa tuổi, phụ nữ ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ,…dựa trên hình dạng hoặc một vài thông số kích thước. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về đặc điểm nhân trắc cơ thể người và xây dựng hệ thống cỡ số cho các đối tượng khác nhau đã được thực hiện. Tuy nhiên các nghiên cứu này thường tập trung cho một lứa tuổi hẹp, với các kích thước trên toàn bộ hoặc một phần cơ thể hoặc tại phần ngực chỉ đo kích thước vòng ngực, vòng chân ngực và vòng trên ngực, khoảng cách giữa hai núm vú và một số kích thước khác nhằm xác định chỉ số hình dáng hoặc xây dựng hệ thống cỡ số cơ thể người theo phương pháp truyền thống.
Các nghiên cứu về đặc điểm nhân trắc ngực, phân nhóm ngực phụ nữ Việt Nam nói chung và nữ sinh Bắc Việt Nam nói riêng vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và chi tiết. Để phân tích được đặc điểm nhân trắc ngực và phân nhóm ngực thì việc xác định các kích thước ngực là rất cần thiết. Phương pháp xác định kích thước đặc trưng của phần ngực vẫn chưa được quan tâm đầy đủ và thể hiện rõ ràng trong các nghiên cứu. Phương pháp đo kích thước ngực nữ 1.
Đo kích thước ngực bằng phương pháp đo tiếp xúc Phương pháp đo tiếp xúc là sử dụng các dụng cụ đo, dụng cụ phụ trợ kết hợp xác định các mốc đo, đo tiếp xúc các kích thước trên cơ thể người [12]. Với phương 8 pháp này có thể đo khoảng cách, đo các đường cong hoặc đo các chu vi của phần ngực. Dụng cụ đo chính được sử dụng khi đo tiếp xúc là thước dây và bộ dụng cụ đo Martin. Phương pháp đo tiếp xúc được áp dụng phổ biến bởi dụng cụ đo sử dụng đơn giản, chi phí thấp, kết quả khá chính xác.
Thước Vernier có thể đo với độ chính xác tới 0,1 mm [13]. Bộ dụng cụ đo Martin [13] Tuy nhiên, đo ngực bằng phương pháp tiếp xúc thường gây cảm giác không thoải mái cho người được đo, tốn nhiều thời gian, ghi chép dữ liệu dễ nhầm lẫn và khó khăn cho việc xác định chính xác với một số kích thước bởi cấu trúc và hình dạng ngực nữ phức tạp. Zheng và cộng sự đã dùng phương pháp đo tiếp xúc để nghiên cứu tỷ lệ và hình dạng ngực với 46 kích thước cơ thể trong đó có chiều cao, chiều rộng, độ dày, chu vi, khoảng cách bề mặt và các kích thước ngực chi tiết [14]. Thước đo độ rộng của b.
Thước đo độ phân bố c. Thước cặp Martin Martin đường cong d. Thước trượt e. Thước đo độ sâu Hình 1.
Các dụng cụ Martin dùng để đo kích thước ngực nữ [15] 9 Hình 1. Đo khoảng cách bằng dụng cụ martin [15] Paulo R. Quieregatto và cộng sự đã sử dụng thước dây và bộ dụng cụ để đo kích thước ngực nữ [16]. Tuy nhiên phương pháp này gây nhiều bất tiện do dụng cụ đo tiếp xúc với cơ thể người được đo, đặc biệt ở những bộ phận nhạy cảm.
Đo kích thước phần ngực nữ bằng bộ dụng cụ đo [1] Phương pháp đo kích thước cơ thể người Việt Nam được thực hiện theo tiêu chuẩn TCVN 1267-72 , TCVN 1268-72 (Phương pháp đo tiếp xúc 45 kích thước trên cơ thể nữ). Tiêu chuẩn này quy định tư thế, trang phục khi đo cũng như các mốc chuẩn, cách xác định kích thước trên cơ thể người và quy trình đo cụ thể.