ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đƣờng là một trong những bệnh mạn tính mang tính toàn cầu và là bệnh phát triển nhanh nhất hiện nay [5]. Theo Liên đoàn Đái tháo đƣờng Thế giới (IDF), năm 2017 toàn thế giới có 425 triệu ngƣời (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ), tƣơng đƣơng cứ 11 ngƣời có 1 ngƣời bị ĐTĐ, đến năm 2045 con số này sẽ là 629 triệu [8]. Tổ chức Y tế Thế giới cũng ƣớc lƣợng có khoảng 12% chi phí y tế của toàn thế giới đƣợc chi cho ĐTĐ (727 tỷ USD) [8]. Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực phẩm không thích hợp, ít hoạt động thể lực ở trẻ em, bệnh ĐTĐ típ 2 đang có xu hƣớng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng.500 trẻ em và trẻ vị thành niên bị ĐTĐ [8].
Bệnh ĐTĐ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm về bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, suy thận, nhiễm trùng và biến chứng bàn chân. Nhƣng một điều đáng khả quan, có tới 70% trƣờng hợp ĐTĐ típ 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng tuân thủ lối sống lành mạnh, dinh dƣỡng hợp lý và tăng cƣờng luyện tập thể lực [9]. Vì vậy, ngƣời bệnh đái tháo đƣờng cần tuân thủ điều trị để kiểm soát tình trạng bệnh: dùng thuốc đúng, đủ liều, đều đặn, tích cực thay đổi lối sống nhƣ thực hiện chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ dinh dƣỡng và các yếu tố vi lƣợng, giảm cân nếu thừa cân hoặc béo phì, thay đổi thói quen nhƣ hút thuốc lá, hạn chế rƣợu bia, tăng cƣờng hoạt động thể lực ở mức độ phù hợp, định kỳ kiểm tra chỉ số đƣờng huyết [7], [14]. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy tại các quốc gia, địa phƣơng khác nhau vấn đề tuân thủ điều trị và yếu tố ảnh hƣởng rất khác nhau.
Việc không kiểm soát, quản lý tuân thủ điều trị ở ngƣời bệnh ĐTĐ không chỉ dẫn tới nguy cơ tàn tật, tử vong, giảm chất lƣợng cuộc sống mà còn gia tăng chi phí và gánh nặng cho hệ thống y tế [5]. Tại Việt Nam, trong năm 2017 có 3,53 triệu ngƣời mắc bệnh đái tháo đƣờng và có nguy cơ gia tăng lên thành 6,13 triệu ngƣời vào năm 2045. Cũng nhƣ các nƣớc đang phát triển khác, do trình độ hiểu biết còn hạn chế, ngƣời bệnh mắc ĐTĐ ở nƣớc ta thƣờng đƣợc phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn và thƣờng đến bệnh viện với những biến chứng nặng nề. Cũng trong điều tra này có tới trên 60% số ngƣời mắc bệnh ĐTĐ không đƣợc chẩn đoán và điều trị [18].
Mặc dù, cả nƣớc hiện có 3,5 2 triệu ngƣời (độ tuổi từ 20-79) mắc bệnh này nhƣng có tới 69,9% không biết mình bị bệnh. Trong số này 85% chỉ phát hiện ra bệnh khi có biến chứng nguy hiểm nhƣ: tim mạch, suy thận, thần kinh, biến chứng bàn chân đái tháo đƣờng… Có đến 80% ngƣời bệnh đái tháo đƣờng chết do biến chứng tim mạch. Bên cạnh đó, họ có nguy cơ bị tai biến mạch máu não cao hơn ngƣời bình thƣờng 2-4 lần. Ngƣời bệnh đái tháo đƣờng có tới 20% bị bệnh thận, gây suy thận, có thể chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận.
Việt Nam đƣợc xếp nằm trong 10 quốc gia có tỷ lệ gia tăng ngƣời bệnh đái tháo đƣờng cao nhất thế giới với tỷ lệ ngƣời bệnh tăng 5,5% m i năm. Tuy nhiên, theo Bộ Y tế cả nƣớc mới chỉ có 28,9% ngƣời bệnh bị ĐTĐ đƣợc quản lý tại các cơ sở y tế, trong khi số chƣa đƣợc quản lý theo số liệu thống kê mới nhất năm 2015 là 71,1% [11]. Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang (BVĐKTT) là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Sở Y tế Tiền Giang, quy mô 1302 giƣờng bệnh thực kê với đầy đủ các chuyên khoa. Trong đó, khoa Nội tiết và Đái tháo đƣờng, hiện đang quản lý 2 phòng khám Nội tiết.
M i ngày trung bình có khoảng 200 ngƣời bệnh ĐTĐ đến khám, đa số là ĐTĐ típ 2. Từ năm 2016 đến năm 2018, số lƣợng ngƣời bệnh ĐTĐ típ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết tích lũy tăng lên từng năm với số lƣợt khám là 39. Từ trƣớc tới nay tại bệnh viện chƣa có nghiên cứu nào về tình hình tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ, để trả lời câu hỏi thực trạng tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh ĐTĐ típ 2 đến khám tại bệnh viện nhƣ thế nào? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến việc tuân thủ điều trị ở ngƣời bệnh ĐTĐ này? Để có thể trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh đái tháo đƣờng típ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh đái tháo đƣờng típ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và phân loại bệnh đái tháo đƣờng 1.
Định nghĩa bệnh đái tháo đường Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2000: “ Đái tháo đƣờng là một bệnh mạn tính gây ra do thiếu sản xuất insulin của tụy hoặc tác dụng insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải và/hoặc do di truyền với hậu quả tăng glucose máu. Tăng glucose máu gây tổn thƣơng nhiều hệ thống trong cơ thể, đặc biệt là mạch máu và thần kinh” [41]. Theo định nghĩa đái tháo đƣờng của Hiệp hội Đái tháo đƣờng Mỹ (American Diabetes Association – ADA) năm 2003: “Đái tháo đƣờng là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thƣờng kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng và sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [33].
Chẩn đoán bệnh đái tháo đường Năm 2018, theo khuyến cáo của ADA và đƣợc sự đồng thuận của WHO, chẩn đoán ĐTĐ khi có ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn sau [26]: - Đƣờng huyết lúc đói (FPG: fasting plasma glucose) ≥ 126 mg/dL (7,0 mmol/L) (Nhịn ăn ít nhất 8 giờ trƣớc khi lấy máu xét nghiệm) hoặc: - Đƣờng huyết tƣơng ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đƣờng uống 75g: ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L), hoặc: - Ngƣời bệnh có các triệu chứng tăng đƣờng huyết (Ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều và gầy nhiều) và đƣờng huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L), hoặc: - HbA1C ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Lƣu ý: Tiêu chuẩn 1, 2, và 3 nên thực hiện lần 2 vào ngày khác (trong vòng 1-7 ngày) trƣớc khi chẩn đoán ĐTĐ. 5 Mẫu đƣờng huyết lúc đói và đƣờng huyết sau ăn 2 giờ nên đƣợc lƣu trữ và xét nghiệm nhanh chóng Nếu kết quả gần ngƣỡng thì nên xét nghiệm lại 3-6 tháng sau đó. Phân loại bệnh đái tháo đường Phân loại bệnh ĐTĐ và các mức độ giảm dung nạp glucose hiện đang sử dụng đƣợc ADA đề xuất năm 1997 và đƣợc WHO phê chuẩn vào năm 1999 dựa trên cơ sở cơ chế bệnh sinh gồm 3 thể bệnh ĐTĐ [43].
Phân loại đái tháo đƣờng gồm: - Đái tháo đƣờng típ 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). - Đái tháo đƣờng thai kỳ (là ĐTĐ đƣợc chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ tip 1, típ 2 trƣớc đó). - Đái tháo đƣờng do các nguyên nhân khác, nhƣ: ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất nhƣ sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… 1. Khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá, phƣơng pháp đánh giá 1.
Khái niệm tuân thủ điều trị Theo định nghĩa của WHO tuân thủ điều trị là từ để chỉ hành vi của ngƣời bệnh trong việc thực hiện hƣớng dẫn điều trị của thầy thuốc nhƣ sử dụng thuốc, ăn kiêng, hay thay đổi lối sống. Tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ là: sự tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh ĐTĐ trong việc thực hiện hƣớng dẫn của thầy thuốc về sự kết hợp của 4 biện pháp: Chế độ dinh dƣỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, chế độ kiểm soát đƣờng huyết và khám sức khỏe định kỳ”[29], [41]. Tiêu chuẩn đánh giá Một số chỉ số đánh giá theo Bộ Y tế như sau [9] : - Mức huyết áp khuyến cáo cho ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là dƣới 130/80 mmHg. 6 - Mức đƣờng huyết kiểm soát tốt là dƣới 7 mmol/l khi đói hoặc 7 – 8 mmol/l sau ăn 2 giờ.
- Những thực phẩm ăn thƣờng xuyên là những thực phẩm có tần suất ăn từ 3 lần trở lên trong 1 tuần - Những thực phẩm ăn không thƣờng xuyên là những thực phẩm có tần suất ăn dƣới 3 lần trong 1 tuần - Tuân thủ dùng thuốc là chế độ điều trị dùng thuốc đều đặn suốt đời, đúng loại thuốc, đúng giờ, đúng liều lƣợng. - Những trƣờng hợp quên thuốc uống/tiêm thì nên xin ý kiến bác sỹ, không nên uống/tiêm bù vào lần uống/tiêm sau. Các tiêu chuẩn đánh giá cụ thể về tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh ĐTĐ là tuân thủ đủ 4 biện pháp: chế độ dinh dƣỡng hợp lý; hoạt động thể lực thƣờng xuyên; chế độ dùng thuốc đúng; chế độ kiểm soát đƣờng huyết tại nhà và khám sức khỏe định kỳ thƣờng xuyên. Chế độ dinh dưỡng: Theo khuyến cáo của các chuyên gia dinh dƣỡng ngƣời bệnh ĐTĐ nên tuân thủ các nguyên tắc sau [17]: - Các thực phẩm nên sử dụng: Nên sử dụng các loại thực phẩm có chỉ số đƣờng huyết thấp dƣới 55% trong bữa ăn nhƣ: Hầu hết các loại rau trừ bí đỏ, các loại đậu (đậu phụ, đậu xanh.), các loại trái cây (xoài, chuối, táo, mận).
Chọn các thực phẩm giàu đạm nguồn gốc động vật ít chất béo và/hoặc nhiều acid béo chƣa no có lợi cho sức khỏe nhƣ thịt nạc (thịt gia cầm nên bỏ da), nên ăn cá ít nhất 3 lần trong m i tuần. - Các thực phẩm nên hạn chế nhƣ: Cơm, miến dong, bánh mỳ (chỉ nên ăn tối đa 1 lần/1 loại/1 ngày), các món ăn rán, quay.