Chương 1: Cơ sở lí luận về hành vi tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường. Chương 2: Thực trạng về hành vi tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường đang điều trị tại bệnh viện quận Gò Vấp năm 2020. Đạo đức trong nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành khi có sự đồng ý và cho phép của Ban lãnh đạo bệnh viện đa khoa Quận Gò Vấp, Tp. Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của khách thể nghiên cứu Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm.
Tất cả những thông tin trong nghiên cứu đều được giữ bí mật và chỉ được phục vụ cho nghiên cứu. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN MẮC BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Vấn đề hành vi con người rất được quan tâm nghiên cứu kể từ năm 1913 ở Mỹ, là năm mà chủ nghĩa hành vi ra đời. Đặc biệt là ở thế kỷ 21, vấn đề nghiên cứu tâm lý con người trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, nhất là vấn đề nảy sinh từ đời sống tinh thần, vấn đề xã hội, cũng như khám phá những tiềm năng con người nhằm đáp ứng sự phát triển không ngừng của xã hội.
Vấn đề tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường cũng được các nhà y học và tâm lý học Mỹ nhìn nhận vai trò hết sức quan trọng của tâm lý học trong điều trị bệnh đái tháo đường, cần phải điều trị liên ngành giữa y học và tâm lý học, xã hội học,…để làm giảm tỷ lệ người mắc bệnh, tăng hiệu quả điều trị, giảm chi phí điều trị,…(Hunter, 2016) 1. Trên thế giới Theo Tổ chức Y tế Thế giới, việc không tuân thủ thuốc dài hạn đối với các tình trạng như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và đái tháo đường là một vấn đề phổ biến dẫn đến lợi ích sức khỏe bị tổn hại và hậu quả kinh tế nghiêm trọng về lãng phí thời gian, tiền bạc và bệnh không được chữa trị, và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu. Theo tác giả LM Chuang và cs nghiên cứu về “Tình hình kiểm soát bệnh đái tháo đường ở Châu Á” khảo sát cắt ngang trên 24. 317 bệnh nhân bị đái tháo đường năm 1998, đã thu thập dữ liệu từ 230 trung tâm đái tháo đường ở Bangladesh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.
Kết quả: Giá trị trung bình của HbA1c đo tập trung là 8,6 +/- 2,0% cho 18. Trong số các bệnh nhân có số đo HbA1c trung tâm, phần lớn (55%) có giá trị vượt quá 8%, cho thấy kiểm soát đường huyết kém. Tỷ lệ mắc bệnh võng mạc, microalbumin niệu và bệnh lý thần kinh cũng cao hơn ở nhóm bệnh nhân có HbA1c cao hơn. HbA1c trung 8 bình của dân số đái tháo đường ở Bangladesh, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Đài Loan thấp hơn đáng kể (tất cả P = 0,0001, ngoại trừ P = 0,0007 đối với Malaysia), trong khi của Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines và Việt Nam cao hơn đáng kể (tất cả P = 0.
Các bệnh nhân tiểu đường châu Á được điều trị tại các trung tâm đái tháo đường, hơn một nửa không được kiểm soát tốt. Tỷ lệ biến chứng vi mạch máu đái tháo đường cao hơn ở nhóm bệnh nhân có HbA1c cao hơn. Kết quả cho thấy, sự tuân thủ y lệnh điều trị của bệnh nhân đái tháo đường ở các quốc gia Châu Á trên có sự khác nhau, sự kém tuân thủ điều trị của bệnh nhân thể hiện ở chỗ họ vẫn chưa kiểm soát lượng đường trong máu của mình ở mức ổn định. Giá trị trung bình của HbA1c luôn vượt quá 8%.
Trong đó HbA1c trung bình của dân số đái tháo đường của Việt Nam cao hơn đáng kể (p=0). Và sự kéo dài của việc kiểm soát đường huyết kém này sẽ càng làm tăng các biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Ở phương diện đánh giá nhận thức về bệnh đái tháo đường và sự tự chăm sóc bản thân, tác giả Viral N Shah và cs nghiên cứu trong đề tài “Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của các bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 trong khu vực Saurashtra”, trên 238 bệnh nhân có 52% là nam giới. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 55,82 +/- 10,2 (95% CI 54,5-57,1) với trọng lượng trung bình là 64,52 +/- 10,96 Kg (95% CI 62,8-66,2).
Thời gian trung bình của bệnh đái tháo đường là 8. Kết quả là 46% bệnh nhân biết sinh lý bệnh của bệnh đái tháo đường. Gần 50% biết các biến chứng của bệnh đái tháo đường. Sửa đổi chế độ ăn uống được dựa nhiều hơn các bài tập trong số các đối tượng được phỏng vấn.
Hầu hết các khiếm khuyết trong kiến thức chiếm ưu thế trong điều trị thuốc của bệnh đái tháo đường. Insulin không được ưa chuộng bởi hầu hết bệnh nhân. Một phát hiện đáng khích lệ trong nghiên cứu của chúng tôi là hầu hết tin tưởng vào việc tự chăm sóc bản thân và sẵn sàng thay đổi. Thời gian tư vấn được đưa ra bởi các bác sĩ điều trị của họ là ít hơn 5 phút trong gần 50%.
Chăm sóc và giáo dục chân để ngăn ngừa các biến chứng ít được đề xuất bởi các bác sĩ. Nghiên cứu này cho thấy có tới 46% bệnh nhân nhận thức được sinh lý của bệnh đái tháo đường, 50% bệnh nhân nhận thức được các biến chứng của bệnh và sẵn sàng sửa đổi phù hợp về dinh 9 dưỡng, tin tưởng vào sự tự chăm sóc bản thân. Họ có tâm thế sẵn sàng, thái độ tin tưởng vào sự tự chăm sóc của mình sẽ biến chuyển hành vi tuân thủ điều trị để đạt được hiệu quả kiểm soát đường huyết, qua đó sẽ phòng ngừa được biến chứng tốt hơn (Shah VN, Kamdar P, 2009). Thêm những đề cập quan trọng về yếu tố nguy cơ, biến chứng của bệnh ĐTĐ mà tác giả Naheed Gul nghiên cứu trong đề tài “Kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2”, nghiên cứu mô tả một trăm bệnh nhân, họ được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi có cấu trúc.
Tuổi trung bình của bệnh nhân là 50 +/- 5 tuổi với tỷ lệ nam / nữ là 1: 3. Kết quả cho thấy nhận thức của bệnh nhân về bệnh đái tháo đường là thấp. Giá trị trung bình của câu trả lời đúng cho các yếu tố nguy cơ, biến chứng và kiểm soát đường huyết là 33,5%, 69% và 39%. Sáu mươi mốt phần trăm bệnh nhân thường xuyên kiểm tra lượng đường trong máu nhưng chỉ một số ít biết giá trị đường huyết mục tiêu.
Chỉ một phần sáu trong số tất cả các bệnh nhân có thể trả lời chính xác câu hỏi liên quan đến dinh dưỡng. 92% công nhận huyết áp là yếu tố nguy cơ trong khi câu trả lời chính xác cho chứng tăng lipid máu, hút thuốc lá, lối sống ít vận động và trọng lượng cơ thể lần lượt là 42%, 70%, 76% và 66%. Nhận thức về các biến chứng về mắt và thận cũng khá thấp. Nghiên cứu này cho thấy, tỉ lệ bệnh nhân nhận thức yếu tố nguy cơ của bệnh lý đái tháo đường và việc kiểm tra đường huyết, biến chứng của bệnh là rất thấp.
Hơn 60% khách thể có hành vi kiểm tra đường huyết nhưng lại không hiểu biết về chỉ số đường huyết cần đạt được khi tuân thủ y lệnh điều trị, điều này cho thấy rằng để hành động đúng cần có nhận thức chính xác và khoa học (Gul N. Theo Anju Gautam và cs nghiên cứu cắt ngang trên 244 bệnh nhân ĐTĐ với đề tài “Kiến thức, thái độ và thực hành sức khỏe liên quan đến bệnh đái tháo đường của bệnh nhân ở Nepal” năm 2014, kết quả cho thấy điểm trung bình cho kiến thức, thái độ, thực hành tương ứng 81,40 và 41. Trong tất cả các đối tượng có 12,3% có kiến thức đúng; 12,8% có thái độ đúng và 16% có thực hành đúng. Nữ có kiến thức 53,3%, thái độ thực hành 59,0%, cao hơn nam (p>0,05).
Trong nghiên cứu, bệnh nhân ĐTĐ có kiến thức đúng, thái độ đúng về bệnh ĐTĐ là rất thấp, chỉ đạt 12,3% và 12,8%, trong đó hành vi 10 thực hành đúng với bệnh lý ĐTĐ chỉ đạt 16%. Tác giả nhận thấy nhận thức, thái độ về bệnh ĐTĐ quy định mức độ thực hiện hành vi đúng với bệnh lý của bệnh nhân. Cụ thể trong nghiên cứu này cho thấy kiến thức thấp, thái độ chưa cao và hành động thực hành thấp (Hà Thị Huyền và cs, 2016). Nhà tâm lý học người Mỹ, là thành viên của nhóm chăm sóc bệnh đái tháo đường đa ngành, Hilliard và cộng sự nghiên cứu “Các can thiệp hành vi dựa trên bằng chứng để thúc đẩy quản lý bệnh đái tháo đường ở trẻ em, thanh thiếu niên và gia đình” năm 2016 đã chỉ ra rằng: Các can thiệp tâm lý và hành vi có thể thúc đẩy việc tuân thủ chế độ chăm sóc bệnh đái thđường phức tạp và khắt khe, với mục tiêu thúc đẩy chất lượng cuộc sống cao, đạt được sự kiểm soát đường huyết tối ưu và cuối cùng là ngăn ngừa các biến chứng liên quan đến bệnh.
Họ còn đánh giá các biện pháp can thiệp hành vi đương đại đã được nghiên cứu kỹ lưỡng để thúc đẩy kết quả gia đình và tự quản lý và sức khỏe tối ưu ở thanh niên mắc bệnh đái tháo đường, bằng chứng cho thấy các chương trình đào tạo kỹ năng về bệnh đái tháo đường, can thiệp gia đình và can thiệp đa hệ thống, song song với can thiệp y tế di động và hệ thống như bao gồm các can thiệp điều chỉnh hành vi để đáp ứng nhu cầu và sức mạnh riêng của cá nhân và gia đình, đồng thời đánh giá hiệu quả chi phí một cách có hệ thống để vận động phổ biến các can thiệp đã phát triển tốt. Qua nghiên cứu quan sát và can thiệp đối với thanh niên mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 và gia đình của họ cần phải có sự tham gia của các thành viên trong gia đình, xem xét các vấn đề văn hóa và gia đình liên quan đến hành vi sức khỏe. Các nhà tâm lý học và nhà khoa học hành vi phải vận động để lồng ghép sức khỏe hành vi vào chăm sóc bệnh nhi đái tháo đường định kỳ nhằm thúc đẩy hiệu quả sự thay đổi có ý nghĩa trong hành vi và sức khỏe y tế của thanh niên và gia đình sống chung với bệnh nhân đái tháo đường tuýp 1 và tuýp 2 (Hilliard, M.