ĐẶT VẤN ĐỀ “Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính, với đặc trưng là glucose máu luôn cao do khiếm khuyết tiết Insulincủa tuyến tụy, tác động Insulin hoặc do cả hai. NB đái tháo đường tuýp 2 có nguy cơ xuất hiện bệnh tim mạch và tử vong cao hơn người không mắc bệnh, liên quan đến sự gia tăng các bệnh mạn tính đi kèm như: Tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu, …”(1), (3). Trên thế giới, năm 2019 có khoảng 463 triệu người từ 20 – 79 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, khoảng 79,4% NB ĐTĐ sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Tại Đông Nam Á có khoảng 8,8% dân số từ 20–79 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, tương đương với 87,6 triệu người (4).
Năm 2016, Việt Nam có khoảng 4,58 triệu người mắc bệnh ĐTĐ (5). Dự báo mỗi năm nước ta có khoảng 88. ĐTĐ tuýp 2 nằm trong nhóm những bệnh lý không lây nhiễm có tỷ lệ NB cao nhất, điều đó làm tăng gánh nặng cho ngành y tế cũng như kinh tế đất nước và trở thành mối lo ngại lớn đối với tất cả các quốc gia. Điều trị ĐTĐ tuýp 2 NB phải tuân thủ điều trị bao gồm: Chế độ dùng thuốc (CĐ DT), hoạt động thể lực (HĐ TL), chế độ dinh dưỡng (CĐ DD), kiểm soát đường huyết (KSĐH) và tái khám định kỳ (TK ĐK).
Nếu NB ĐTĐ không tuân thủ thì đường huyết sẽ không đươc kiểm soát tốt, nguy cơ xuất hiện nhiều biến chứng (Cấp tính như: Hôn mê do nhiễm Ceton, do tăng áp lực thẩm thấu,…hoặc mạn tính như: Tổn thương thận, tim, mắt, mạch máu, hoại tử chi, …) và kéo theo đó là tình trạng chi phí khám chữa bệnh tăng cao, chất lượng cuộc sống giảm, nguy cơ tàn tật và tử vong cao (2). Tỉnh Bến Tre có dân số khoảng 1.262 triệu người, ước tính có khoảng 68. Trong đó 50% số người này không biết mình mắc bệnh. Năm 2020, tại TTYT huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đang quản lý và điều trị cho 209 NB ĐTĐ mới (7).
Điều này, cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ tuýp 2 có khuynh hướng tăng cao. Mặc khác, bệnh ĐTĐ không thể chữa khỏi được, nhưng triệu chứng và biến chứng có thể kiểm soát được thông qua tuân thủ điều trị (TTĐT). Nếu NB TTĐT thì đường huyết sẽ được kiểm soát tốt do đó sẽ giảm nguy cơ xuất hiện biến chứng và 2 tỷ lệ tử vong, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho NB. Nhưng việc tuân thủ chịu ảnh hưởng nhiều bởi khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cũng như những thông tin mà người bệnh nhận được từ CBYT.
Tuy nhiên, địa hình tỉnh Bến tre nằm ở thượng nguồn với hệ thống sông ngòi chằng chịt, giao thông khó khăn nên việc tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế. Vì vậy, để tìm hiểu tỷ lệ NB ĐTĐ tuýp 2 tuân thủ điều trị và những yếu tố nào liên quan đến việc điều trị bệnh của NB. Chúng tôi đặt ra câu hỏi nghiên cứu: Mô hình quản lý NB ĐTĐ hiện nay tại các cơ sở y tế công lập có mang lại sự tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ? Và tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tuân thủ của người bệnh đái tháo đường túyp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri, Bến Tre và một số yếu tố liên quan năm 2021” với mục tiêu xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 2021. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 2021. Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh đái tháo đường 1.
Khái niệm “Đái tháo đường: Đây là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết do khiếm khuyết trong bài tiết insulin, hoạt động của insulin hoặc do cả hai. Glucose tăng cao mãn tính trong thời gian dài gây rối loạn chuyển hóa của mạch máu, carbohydrate, protein, lipid và gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt: Tim, thận, mắt và thần kinh” (1), (2), (8). Phân loại bệnh ĐTĐ (1), (9), (10): 4 loại - ĐTĐ tuýp 1: Do tế bào beta của tuyến tụy bị phá hủy dẫn đến thiếu hụt Insulin tuyệt đối.
- ĐTĐ týp 2: Do chức năng tế bào beta tuyến tụy giảm dần trên nền kháng insulin. - ĐTĐ thai kỳ: Bệnh được xuất hiện trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ (sản phụ trước đó không bị mắc bệnh). - Các dạng ĐTĐ đặc biệt: Do hóa chất, ĐTĐ sơ sinh, ĐTĐ liên quan đến thuốc như sử dụng glucocorticoid, sau ghép mô, điều trị HIV/AIDS,. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường ADA (Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ): Chẩn đoán ĐTĐ dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn (1), (10): - Tiêu chuẩn 1: Đường huyết lúc đói FPG ≥ 126 mg/dL (7 mmol/L).
NB phải nhịn ăn tối thiểu 8 giờ (nhịn ăn qua đêm khoảng 8 - 14h) nhưng có thể uống nước đun sôi, nước lọc ngoại trừ nước ngọt, hoặc: - Tiêu chuẩn 2: Glucose huyết tương sau 2h thực hiện nghiệm pháp dung nạp Glucose đường uống 75g (Oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hoặc 11,1 mmol/L). 5 Thực hiện OGTT: Hướng dẫn NB nhịn ăn từ nửa đêm hôm trước, hòa tan 75g glucose với 250-300 ml nước cho uống trong thời gian 5 phút; Trước đó 3 ngày, cho NB ăn chế độ có khoảng 150-200 gam carbohydrate/ngày. - Tiêu chuẩn 3: HbA1c ≥ 6,5% (hay 48 mmol/mol). Lưu ý: Thử nghiệm này nên thực hiện trong phòng xét nghiệm theo chuẩn hóa các tiêu chuẩn của quốc tế.
- Tiêu chuẩn 4: Đối với những NB có các triệu chứng điển hình của tăng đường huyết hoặc đường huyết tại bất kỳ thời điểm nào ≥ 200 hoặc 11,1 mmol /L. Ở những NB có các triệu chứng cổ điển của tăng đường huyết hoặc đường huyết tại bất kỳ thời điểm nào ≥ 200 mg/dL (hoặc 11,1 mmol / L). Trường hợp NB không có các triệu chứng điển hình của tăng đường huyết (đa niệu, ăn uống vô độ, sụt cân với nguyên nhân không rõ), nên làm lại xét nghiệm để chẩn đoán chính xác. Thời gian thực hiện xét nghiệm kiểm tra thứ hai được thực hiện từ 1-7 ngày sau lần kiểm tra đầu tiên (2).
Dịch tễ bệnh ĐTĐ tuýp 2 Tình hình bệnh ĐTĐ tuýp 2 trên thế giới: Theo báo cáo của WHO: Số người mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới tăng từ 108 triệu người lên 422 triệu người (từ năm 1980 đến năm 2014). Tỷ lệ mắc bệnh tại các nước có nền kinh tế khó khăn đang tăng nhanh. Dự kiến năm 2030, số ca bệnh sẽ tăng lên 578 triệu người. Cứ hai người trưởng thành sống chung với ĐTĐ tuýp 2 thì có một người không được chẩn đoán.
ĐTĐ là nguyên nhân chính dẫn đến mù lòa, suy thận, đau tim, đột quỵ và cắt cụt chi dưới. Năm 2012 có khoảng 2,2 triệu NB tử vong do lượng đường trong máu cao. Ước tính từ năm 2000 đến năm 2016, số lượng NB tử vong do bệnh ĐTĐ tăng lên 5% (11). Trong số ca bệnh ĐTĐ thì ĐTĐ tuýp 2 chiếm 90% và được coi là một căn bệnh chính liên quan đến lối sống.
Năm 2017, trên toàn thế giới có khoảng 462 triệu BN ĐTĐ tuýp 2, chiếm 6,28% dân số toàn cầu. Theo WHO, năm 2030 ĐTĐ sẽ nằm trong nhóm 7 nguyên nhân có tỷ lệ tử vong cao nhất (12). 6 Năm 2019, ước tính có khoảng 463,0 triệu người từ 20 – 79 tuổi trên toàn thế giới mắc bệnh ĐTĐ, khoảng 79,4% NB ĐTĐ sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, dự báo đến năm 2030 sẽ có 578,4 triệu người và đến năm 2045 sẽ có 700,2 triệu người từ 20–79 tuổi sẽ sống chung với bệnh ĐTĐ (4). Năm 2019, Đông Nam Á có khoảng 8,8% dân số từ 20–79 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, tương đương với 87,6 triệu người, trong đó 56,7% chưa được chẩn đoán.
Số ca tử vong trong năm khoảng 1,2 triệu, trong đó trên 51,5% số ca tử vong này xảy ra ở NB dưới 60 tuổi. Dự đoán năm 2030 số người mắc bệnh ĐTĐ sẽ lên tới 115,1 triệu (9,7% dân số trưởng thành từ 20 – 79 tuổi). Đến năm 2045, dự kiến sẽ có 152,8 triệu người trưởng thành mắc bệnh tiểu đường (4). Tình hình bệnh ĐTĐ tuýp 2 tại Việt Nam: Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã tiến hành khảo sát của trên 11.000 người trong độ tuổi 30-69 tuổi cho thấy: Tỷ lệ mắc ĐTĐ chiếm 5,42%.
Dự báo mỗi năm nước ta có khoảng 88. Năm 2012, báo cáo của WHO cho thấy: Việt Nam có 3,2 triệu người ≥ 18 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, tăng gần gấp đôi trong 10 năm (từ 2002 đến 2012), đứng thứ 7/39 nước có số NB ĐTĐ cao nhất khu vực Tây Thái Bình Dương (13). Năm 2014, theo thống kê của WHO về bệnh không lây nhiễm: Tỷ lệ NB ĐTĐ tại Việt Nam chiếm 6,5% (14). Năm 2015, nước ta có khoảng 3,5 triệu NB ĐTĐ (15), (16), ước tính số ca tử vong do bệnh ĐTĐ khoảng 53.
Năm 2016, tỷ lệ mắc ĐTĐ là 4,9% (khoảng 4,58 triệu người), tỷ lệ nam mắc ĐTĐ là 4,7% và 5,0% ở nữ (5). Điều trị ĐTĐ tuýp 2 (9) 1. Những nét cơ bản trong điều trị ĐTĐ Nguyên tắc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ tuýp 2 của Bộ Y tế như sau (2): - Kiểm soát đường huyết về gần giới hạn bình thường. - Phòng ngừa biến chứng.
- Góp phần tăng chất lượng cuộc sống. Để đạt được các nguyên tắc này chúng ta nên thực hiện theo 4 loại hình sau: 7 - Điều trị qua chế độ dinh dưỡng của cơ thể, mức độ ăn uống hợp lý - HĐTL và tập thể dục thường xuyên đúng theo nhu cầu thể trạng của cơ thể của mỗi cá nhân. - Sử dụng thuốc điều trị theo đúng phác đồ và hướng dẫn của bác sỹ. - NB tự theo dõi đường huyết và TKĐK theo lịch hẹn của bác sỹ.
Mục tiêu điều trị ĐTĐ tuýp 2 1.