CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm (8) 1. Chất ma túy Chất ma túy là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) Chất dạng thuốc phiện là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle, có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não. Người nghiện ma túy Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các chất này. Dung nạp Dung nạp là tình trạng đáp ứng của cơ thể với một chất, được biểu hiện bằng sức chịu đựng của cơ thể ở liều lượng nhất định của chất đó. Khả năng dung nạp phụ thuộc vào cơ địa và tình trạng của cơ thể.
Khi khả năng dung nạp thay đổi, cần thiết phải thay đổi liều lượng của chất đã sử dụng để đạt được cùng một hiệu quả. Cai nghiện Là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà người nghiện thường sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai và vì vậy người bệnh cần phải được điều trị. Quá liều Là tình trạng sử dụng một lượng chất ma túy lớn hơn khả năng dung nạp của cơ thể ở thời điểm đó, đe dọa tới tính mạng của người sử dụng nếu không được cấp cứu kịp thời. Hội chứng cai Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma túy đang sử dụng ở những người nghiện ma túy.
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma túy đang sử dụng. Thang đánh giá mức độ của hội chứng cai dựa 5 trên quy định của Bộ Y tế dựa trên các biểu hiện lâm sàng bao gồm: nhẹ, trung bình, trung bình nặng và nặng. Các quy định về điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone 1. Các giai đoạn trong quá trình điều trị Mỗi người bệnh tham gia chương trình đều trải qua 03 giai đoạn của quá trình điều trị.
Giai đoạn dò liều thường là 02 tuần đầu điều trị, giai đoạn điều chỉnh liều từ tuần thứ 3 của quá trình điều trị và có thể kéo dài từ 1 đến 3 tháng và giai đoạn điều trị duy trì là khi đạt được liều mà người bệnh được sử dụng liều có hiệu quả tối ưu duy trì trong ít nhất 4 tuần liên tục và không tái sử dụng CDTP trong ít nhất 4 tuần liên tục thì được xác định là gian đoạn duy trì. Quy trình về khám lâm sàng và xét nghiệm Khám lâm sàng nhằm xác định được tình trạng và mức độ lệ thuộc CDTP của người bệnh, các bệnh lý kèm theo, các yếu tố tâm lý, xã hội ảnh hưởng đến quá trình điều trị, các vấn đề cấp bách về sức khỏe và tâm lý, xã hội của người bệnh cần phải giải quyết. Các nội dung thăm khám cụ thể như sau: Đánh giá sức khỏe toàn trạng: Thăm khám toàn diện, đặc biệt các bệnh lí: Viêm gan, suy gan, lao và bệnh phổi, HIV/AIDS, bệnh tim mạch, tình trạng dinh dưỡng và tình trạng thai nghén. Đánh giá sức khỏe tâm thần: Hoang tưởng, ảo giác, kích động, trầm cảm, ý tưởng và hành vi tự sát, tự hủy hoại cơ thể, các rối loạn ý thức, đặc biệt là tình trạng lú lẫn.
Đánh giá những biểu hiện liên quan đến sử dụng ma túy: Các vết tiêm chích, viêm da, áp xe, tắc mạch, viêm nội tâm mạc bán cấp.; Các biểu hiện nhiễm độc hệ thần kinh trung ương: ngủ gà, đi loạng choạng, nói ngọng, tái xanh, nôn, vã mồ hôi; Các dấu hiệu của nhiễm độc hoặc hội chứng cai liên quan đến sử dụng CDTP. Các rối loạn cơ thể liên quan đến sử dụng rượu và các CGN khác. Đối với xét nghiệm, ngoài các xét nghiệm thường quy như công thức máu, men gan: ALT (SGPT), AST (SGOT); xét nghiệm nước tiểu tìm CDTP bằng test nhanh; người bệnh cần thực hiện các xét nghiệm cần thiết khác: xét nghiệm HIV (khi người bệnh tự nguyện), xét nghiệm chẩn đoán viêm gan B, viêm gan C (nếu có điều kiện) và một số xét nghiệm chuyên khoa khi có chỉ định: chẩn đoán lao, các bệnh tim mạch, chẩn đoán có thai. Quy định về tư vấn điều trị Người nghiện CDTP khi tham gia chương trình điều trị Methadone cần phải trải qua quá trình tư vấn, mỗi giai đoạn điều trị có mục tiêu tư vấn khác nhau.
Ở giai đoạn chuẩn bị trước điều trị, người bệnh được tham gia tư vấn, giáo dục nhóm nhằm đánh giá tiền sử sử dụng ma túy, các vấn đề liên quan đến pháp luật, tài chính và các vấn đề tâm lí xã hội khác, tìm hiểu động cơ tham gia điều trị, mức độ cam kết và sẵn sàng tham gia điều trị, mục đích và mong đợi khi tham gia điều trị, cung cấp kiến thức cơ bản về điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc methadone: tác dụng của điều trị bằng methadone, quy trình điều trị, tác dụng không mong muốn, ưu và nhược điểm; các quy định khác có liên quan, cung cấp các thông điệp, tư vấn về giảm nguy cơ; cung cấp các phương tiện giảm nguy cơ như tài liệu, bơm kim tiêm, bao cao su; chuẩn bị cho điều trị, giới thiệu chuyển gửi các dịch vụ phòng, chăm sóc điều trị HIV/AIDS và dịch vụ xã hội khác. Tần suất tư vấn là 01 lần tư vấn cá nhân và 01 lần giáo dục nhóm. Trong quá trình điều trị, người bệnh chủ yếu được tư vấn cá nhân nhằm cung cấp thông tin về các tác dụng của methadone, tác dụng không mong muốn và cách xử trí thông thường, các biểu hiện thiếu thuốc, quá liều, nguy cơ sử dụng đồng thời các chất ma túy khác, một số tương tác thuốc đặc biệt là thuốc kháng vi rút HIV (ARV); tư vấn về tuân thủ điều trị, dự phòng tái nghiện và các biện pháp giảm tác hại khác như sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch. Đồng thời, được hướng dẫn những kỹ năng cần thiết để xây dựng lối sống lành mạnh và tham gia vào các hoạt động xã hội, tránh xa các mối quan hệ có nguy cơ cao dễ dấn đến sử dụng ma túy; quản lí thời gian, tránh căng thẳng, kiềm chế sự nóng giận, giải quyết các vấn đề khó khăn về tâm lí cá nhân và đề ra mục tiêu phấn đấu.; tư vấn về những vấn đề liên quan đến : y tế, tâm lí - xã hội, việc làm.
Tần suất tư vấn như sau: Tuần đầu tiên điều trị: tư vấn cá nhân về TTĐT 02 lần; Tuần thứ 2 đến tuần thứ 4: mỗi tuần 01 lần; Từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 6: mỗi tháng 01 lần; Từ tháng thứ 7 trở đi tùy thuộc tình hình thực tế của người bệnh để tiến hành tư vấn nhưng ít nhất là 03 tháng 01 lần. Khi giảm liều tới khi kết thúc điều trị, người bệnh được đánh giá mức độ phục hồi chức năng tâm lí, xã hội và điều kiện để giảm liều, hỗ trợ trong lập kế hoạch và thực hiện việc giảm liều tiến tới ngừng điều trị, giúp đỡ phát hiện sớm các biểu hiện thiếu thuốc, 7 nguy cơ tái sử dụng các chất ma túy khác và dự phòng tái nghiện, hỗ trợ về mặt y tế, tâm lí và xã hội, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để quay lại điều trị ổn định bằng Methadone với những trường hợp gặp khó khăn trong việc giảm liều và kết thúc điều trị. Sau khi kết thúc điều trị, người bệnh vẫn có thể được tiếp tục tư vấn và hỗ trợ ít nhất 06 tháng sau đó; có thể quay lại tham gia điều trị trong vòng 02 năm kể từ khi kết thúc điều trị nếu họ thèm nhớ mãnh liệt hoặc có nguy cơ tái nghiện; có thể quay lại điều trị bất cứ thời điểm nào nếu họ tái nghiện. Tuân thủ điều trị Methadone 1.
Khái niệm tuân thủ điều trị Hiện nay, chưa có định nghĩa chuẩn tuân thủ điều trị Methadone. Nghiên cứu của Ramli tại Malaysia năm 2012 định nghĩa không tuân thủ điều trị Methadone là người bệnh bỏ trị 2 tuần hoặc hơn, tuy nhiên nếu người bệnh đó tiếp tục duy trì điều trị sau 2 tuần thì vẫn được coi là tuân thủ điều trị (9), hay như định nghĩa trong nghiên cứu của Adili tại Tanzania, không tuân thủ điều trị là vắng mặt 30 ngày liên tiếp, sau đó có trở lại điều trị nhưng cần có can thiệp của nhân viên y tế (10). Nghiên cứu của Femke tại Amsterdam năm 2010 lại đưa ra định nghĩa tuân thủ điều trị là dùng đủ 95% thuốc trở lên trong 6 tháng gần nhất (11). Dựa theo hướng dẫn điều trị Methadone của Bộ Y tế (6), nghiên cứu này đánh giá thực hành tuân thủ điều trị Methadone của người bệnh trong 01 tháng gần nhất (tính từ khi phỏng vấn).
Người bệnh được đánh giá là tuân thủ điều trị khi ‘không bỏ bất kì ngày uống thuốc nào’ trong vòng 01 tháng trước khi phỏng vấn. Tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị Methadone TTĐT Methadone nhằm đảm bảo nồng độ huyết tương được duy trì và tránh hội chứng cai, khóa tác dụng của heroin. TTĐT Methadone là yếu tố đóng vai trò quan vô cùng quan trọng giúp người bệnh ngừng sử dụng CDTP và góp phần chủ yếu vào sự thành công của chương trình điều trị. Nếu không uống thuốc Methadone hàng ngày sẽ làm giảm nồng độ Methadone trong huyết tương, tác động dung nạp chéo với heroin giảm, làm giảm tác dụng của điều trị duy trì trong giảm tác động "phê" của đồng sử dụng heroin, đồng nghĩa với việc xuất hiện hội chứng cai, thèm nhớ heroin, tăng nguy cơ tái sử dụng heroin và tái nghiện (12).
Hỗ trợ tuân thủ điều trị TTĐT đối với người bệnh điều trị Methadone là việc khó khăn do người bệnh phải đến cơ sở điều trị để uống thuốc hàng ngày. Do vậy, việc hỗ trợ TTĐT đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan. Cán bộ y tế (CBYT) bao gồm: bác sĩ, dược sĩ, y tá, tư vấn viên, xét nghiệm và nhân viên hành chính và cơ sở điều trị đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ việc TTĐT của người bệnh. CBYT tư vấn, hướng dẫn cho người bệnh và người nhà người bệnh biết cách xử trí tác dụng không mông muốn và các diễn biến bất thường trong quá trình điều trị; phối hợp với gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội động viên, giúp đỡ người bệnh TTĐT.
Người nhà người bệnh cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn quá trình TTĐT của người bệnh. Những hỗ trợ từ phía gia đình giúp người bệnh tuân thủ tốt hơn trong quá trình điều trị.