Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm cơ bản về bệnh ung thư 1. Bản chất của ung thư Ung thư là bệnh lý “ác tính” của tế bào. Khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.
Đa số người bị ung thư hình thành các khối u. Khác với các khối u lành tính (chỉ phát triển tại chỗ rất chậm, có vỏ bọc xung quanh), các khối u ác tính (ung thư) xâm lấn vào các tổ chức lành xung quanh giống như hình “con cua” với các càng cua bám vào các tổ chức lành trong cơ thể hoặc giống như rễ cây lan trong đất. Các tế bào của khối u ác tính có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới tử vong. Đa số ung thư có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát sinh và phát triển lâu dài qua từng giai đoạn.
Trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể do đột biến gen từ lúc bào thai, còn phần lớn các ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài, có khi hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thấy dưới dạng các khối u. Khi khối u phát triển nhanh mới có các triệu chứng ung thư. Triệu chứng đau thường xuất hiện khi ung thư ở giai đoạn cuối. Theo định nghĩa của quỹ sáng kiến Y tế Mỹ gốc Á đưa ra; Ung thư là thuật ngữ dùng cho căn bệnh trong đó các tế bào bất thường phân chia vượt ngoài tầm kiểm soát và có thể lan truyền qua các mô khác.
Các tế bào khỏe mạnh bình thường luôn phát triển, phân chia và chết, nhưng những tế bào này tiếp tục sống và phân chia và có thể tạo thành khối gọi là khối u. Các khối u có 5 thể lành tính hoặc ác tính. Có hơn một trăm loại ung thư và mỗi loại có một chế độ đề phòng bảo vệ và điều trị khác nhau [7]. Một định nghĩa khác do trường đại học Y Dược Huế 2009 chỉ ra: Ung thư như là quá trình bệnh lý trong đó một số tế bào thoát ra khỏi sự kiểm soát, sự biệt hóa sinh lý của tế bào và tiếp tục nhân lên.
Những tế bào này có khả năng xâm lấn và phá hủy các tổ chức xung quanh. Đồng thời chúng di trú và đến phát triển ở nhiều cơ quan khác nhau và hình thành nên di căn, cuối cùng ung thư gây tử vong cho người bệnh [18]. Từ những định nghĩa trên có thể hiểu một cách chung nhất: ung thư là một nhóm bệnh bắt nguồn từ sự phân chia bất thường của tế bào, nằm ngoài tầm kiểm soát và không theo trình tự. Những tế bào mọc thêm này hình thành các khối u.
Khối u ác tính được gọi là ung thư. Hầu hết các loại ung thư được gọi tên theo cơ quan hay tế bào mà chúng được hình thành. Ví dụ: Ung thư vú, ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư tuyến giáp… 1. Một số mốc lịch sử nghiên cứu của ung thư Xương hóa thạch của loại khủng long cách đây 60 triệu năm có tổn thương ung thư.
Xác ướp người Ai Cập ở Gaza cách đây 5000 năm thấy có ung thư xương và ung thư bàng quang. Thời Hypocrate đã để lại một số bản viết tay mô tả hai loại ung thư: loại sùi ra ngoài nhiều chân như loài tôm cua gọi là Carcinoma và loại phát triển sâu trong thịt gọi là Sarcom.Virchop (người Đức) đã mô tả tế bào ung thư máu và đưa ra giả thuyết về nguồn gốc ung thư tế bào. Năm 1962 Watson và Cric đưa ra mô hình chuỗi xoắn phân tử DNA mô phỏng các loại gien của tế bào. Công trình được nhận giải thưởng Nobel Y học.
6 1979 Richard Doll lãnh đạo nhóm nghiên cứu nguyên nhân gây ung thư trên người từ môi trường sống. Trong đó, ông và Peto nhấn mạnh v ai trò quan trọng của hút thuốc, dinh dưỡng và các ung thư nghề nghiệp. 1981 Cesar Milstein đã phát triển kỹ thuật kháng thể đơn dòng (nhận giải thưởng Nobel 1987). Thomas đã thành công ghép tủy xương trên người ứng dụng tia toàn thân và điều trị hóa chất mạnh trong bạch huyết cấp.
Dịch tễ học mô tả ung thư * Tỷ lệ mới mắc Tỉ lệ mới mắc được tính bằng số ca mới mắc trong quần thể trên 100.000 dân tính trong 1 năm đây là cách tính tốt nhất của tần suất mắc ung thư. Người ta ước lượng tổng số ca ung thư mới mắc trên thế giới như sau: năm 1980 là 6,4 triệu. Qua các bảng thống kê ung thư trên thế giới và Hà Nội hàng năm, thấy có sự giống nhau và khác nhau như sau: Giống nhau về tỷ lệ các ung thư ở các vị trí: phổi, dạ dày, trực tràng, thân tử cung. Nhiều hơn thế giới các ung thư: gan, miệng họng, vòm, lympho, bệnh bạch cầu.
Ít hơn thế giới các ung thư: tiền liệt tuyến, bàng quang, cổ tử cung và thực quản. Tỉ lệ nam/nữ = 5/4 Ở thành phố Hồ Chí Minh hay gặp ung thư cổ tử cung, gan, phổi, vú, vòm. So sánh Hà Nội (miền Bắc) với miền Nam cũng thấy có nhiều điểm khác biệt. Hà Nội hay gặp ung thư dạ dày 14%, ít gặp ung thư cổ tử cung 6%.
7 Thành phố Hồ Chí Minh hay gặp ung thư cổ tử cung 40%, ít gặp ung thư dạ dày 2% [4]. * Tỷ lệ tử vong Tỷ lệ tử vong được tính bằng số ca tử vong trên 100. Tỷ lệ này cũng được phản ánh cho toàn bộ dân cư hay cho từng giới tính, nhóm tuổi. Ở nhiều nước đa số ca tử vong do ung thư phụ thuộc đáng kể vào cấu trúc tuổi của yếu tố dân cư (sự gia tăng của tỷ lệ già, mà phần lớn ung thư gặp ở lứa tuổi này) và một mức độ nào đó phụ thuộc vào những tiến bộ chẩn đoán, nhờ nó mà bệnh ung thư được chẩn đoán trước lúc chết.
Ở một vài nước, tỷ lệ tử vong do ung thư (ở tất cả các vị trí) ở nam cao hơn ở nữ, do nam giới có tỉ lệ mắc ung thư khó chữa cao hơn (phổi, dạ dày, thực quản, tiền liệt tuyến) trong khi đó ung thư thường gặp ở nữ lại có tiên lượng tốt hơn (vú, tử cung) [4]. Ngày nay, ung thư là nguyên nhân gây tử vong phổ biến thứ hai trên thế giới và được nhiều chính phủ công nhận là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe chung. Ở những nước theo lối sống phương Tây, ung thư chiếm 1/4 số ca tử vong [38]. Năm 2004 ở Châu Âu, ước tính có khoảng 2 886 800 trường hợp mắc bệnh ung thư được chẩn đoán và 1 711 000 ca tử vong do ung thư.
Dạng ung thư phổ biến nhất là ung thư phổi (13,3% tổng số ca mắc), tiếp theo là ung thư đại trực tràng (13,2%) và ung thư vú (13%). Ung thư phổi cũng là nguyên nhân gây tử vong do ung thư phổ biến nhất (341 800 ca tử vong), tiếp theo là đại trực tràng (203 700), dạ dày (137 900) và vú (129 900) [45]. * Tuổi là yếu tố quan trọng nhất xác định nguy cơ mắc bệnh ung thư. Đối với hầu hết các ung thư biểu mô thì tỷ lệ mới mắc tăng rõ rệt theo năm tháng.
* Giới: tỷ lệ mới mắc đặc trưng theo nhóm tuổi của hầu hết các vị trí ung thư ở nam thường cao hơn nữ. 8 * Địa lý: Mỗi loại ung thư đều có sự phân bố địa lý riêng biệt. Chỉ số của một số loại ung thư được phân bố đồng đều trên thế giới còn lại các loại khác lại có sự khác biệt rõ rệt về sự phân bố ở các vùng. Có sự khác biệt nổi bật về tỉ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi của một số loại ung thư: Của nam giới ung thư phổi ung thư dạ dày người Mỹ da đen 109,0 19,2 Boom Bay Ấn Độ 15,7 8,9 Nhật Bản 29,6 79,6 Của nữ giới ung thư vú Phụ nữ da trắng Mỹ 82,7 Nhật Bản 22 1.
Những nguyên nhân gây ung thư Hút thuốc lá: gây 30% ung thư các loại, 90% ung thư phổi, 75% ung thư miệng thanh quản, thực quản, 5% ung thư bàng quang. Dinh dưỡng: Sau hút thuốc lá, yếu tố dinh dưỡng được coi là nguyên nhân quan trọng thứ 2 gây bệnh ung thư và tử vong. Rượu: Gây ung thư gan, miệng, thực quản và phần trên thanh quản. Quan tâm hơn cả là mối liên kết giữa thuốc là và rượu có tác dụng cộng hưởng trên ung thư đầu cổ.
Tia xạ: Bức xạ cực tím (UV) do phơi nắng quá độ được xem là tác nhân gây ung thư da (có và không có sắc tố). Cẩn thận che chắn khi làm công tác Xquang, phóng xạ. Các vi rút: Có vi rút được biết là nguyên nhân gây ung thư ở người là vi rút viêm gan B, vi rút Epstein Barr, vi rút bướu gai (HPV) và vi rút gây bệnh bạch cầu dòng lympho T ở người. 9 Tác dụng phụ do dùng thuốc: Rất cẩn thận khi dùng thuốc nội tiết nữ, các chất chống ung thư nhóm có nhân Alkyl.
Nhất là đối với trẻ em cần tuyệt đối tránh. Yếu tố di truyền: Lịch sử gia đình cũng xem là yếu tố nguy cơ hay gặp của một số loại ung thư như ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư võng mạc mắt, bệnh khô da nhiễm sắc tố. Ở một số nước có phòng khám gien để tìm gien gây ung thư [4]. Triệu chứng lâm sàng * Triệu chứng báo hiệu ung thư: - Ho kéo dài là triệu chứng sớm của ung thư phế quản.
- Xuất huyết tiết dịch bất thường báo hiệu nhiều bệnh ung thư. - Thay đổi thói quen: đại tiểu tiện báo hiệu ung thư đại trực tràng, ung thư tiết niệu sinh dục. - Rối loạn tiêu hóa kéo dài là triệu chứng sớm của ung thư đường tiêu hóa. - Đau đầu, ù tai một bên là dấu hiệu sớm của ung thư vòm mũi họng.
- Nói khó báo động ung thư thanh quản, nuốt khó báo động ung thư thực quản. - Nổi u cục cứng phát triển nhanh: Báo động ung thư vú, ung thư phần mềm. - Vết loét dai dẳng khó liền báo hiệu ung thư môi, lưỡi dạ dày. - Thay đổi tính chất kích thước nốt ruồi báo hiệu ung thư hắc tố.
- Nổi hạch bất thường cứng, ít đau báo động hạch ác tính [4]. * Triệu chứng rõ rệt: - Sụt cân: Bệnh ung thư ở giai đoạn rõ rệt và muộn thường gầy sút nhanh chóng có thể sụt 5 – 10kg trong vài tháng.