ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh ĐTD là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thƣơng ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh. Theo Liên đoàn Đái tháo đƣờng Thế giới (IDF), năm 2015 toàn thế giới có 415 triệu ngƣời (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ), tƣơng đƣơng cứ 11 ngƣời có 1 ngƣời bị ĐTĐ, dự kiến sẽ đạt 578 triệu ngƣời vào năm 2030 và 700 triệu ngƣời vào năm 2045[1]. Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực ph m không thích hợp, ít hoặc không hoạt động thể lực.
Bệnh ĐTĐ type 2 đang có xu hƣớng tăng ở cả trẻ em, đã trở thành vấn đề bức xúc về sức khỏe nghiêm trọng. Bệnh ĐTĐ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận và cắt cụt chi. Nhƣng một điều đáng khả quan, có tới 70% trƣờng hợp ĐTĐ type 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng cách tuân thủ lối sống lành mạnh, dinh dƣỡng hợp lý và tăng cƣờng luyện tập thể lực[1]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đƣờng đang tăng ở mức báo động và đã tăng gần gấp đôi trong vòng 10 năm qua.
Hiện nay, ƣớc tính cứ 20 ngƣời Việt Nam thì có một ngƣời mắc bệnh đái tháo đƣờng. Dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đƣờng Quốc tế (IDF) cho thấy năm 2019 Việt Nam có tỷ lệ 6% ngƣời trƣởng thành mắc ĐTĐ với các biến chứng nghiêm trọng. Những biến chứng này là nguyên nhân chính gây tử vong và tàn phế cho ngƣời bệnh đái tháo đƣờng. Tình hình tại Bệnh viện đa khoa Ô Môn số lƣợng bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ đến khám và điều trị ngày một tăng.
Cùng với điều trị thì CS, tƣ vấn cũng rất cấp thiết bởi vì bệnh ĐTĐ chỉ đƣợc kiểm soát tốt khi ngƣời bệnh biết Thang Long University Library 2 điều chỉnh chế độ ăn, chế độ dùng thuốc và tập luyện thể dục. Vì thế, công tác chăm sóc, tƣ vấn điều dƣỡng hết sức là quan trọng, nhằm giúp cho ngƣời bệnh hiểu đƣợc phƣơng pháp tự theo dõi; chăm sóc bản thân và điều chỉnh chế độ ăn; chế độ dùng thuốc hàng ngày nhất là trong thời gian nằm viện[28]. Trong thời gian qua để nâng cao chất lƣợng điều trị và chăm sóc cho bệnh nhân ĐTĐ đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về bệnh ĐTĐ và vai trò của Điều dƣỡng đã đƣợc nâng cao trong quá trình chăm sóc ngƣời bệnh. Vì vậy, để tìm hiểu những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân đái tháo đƣờng trong khu vực và khi bệnh nhân đến Bệnh viện điều trị đƣợc điều dƣỡng chăm sóc, tƣ vấn cho ngƣời bệnh nhƣ thế nào? Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả chăm sóc, tư vấn người bệnh đái tháo đường type 2 và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ năm 2020 – 2021” nhằm hai mục tiêu sau đây: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ năm 2020 -2021. Phân tích kết quả chăm sóc, tư vấn người bệnh và một số yếu tố liên quan. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Đại cƣơng về bệnh đái tháo đƣờng ĐTĐ là một bệnh phổ biến nhất trong số bệnh về rối loạn chuyển hóa, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội và mọi trình độ văn hóa khác nhau. Bệnh gặp nhiều ở các nƣớc phát triển nơi quá trình đô thị hóa đang làm thay đổi tập quán ăn uống, giảm hoạt động thể lực.
Bệnh làm giảm tuổi thọ, giảm sức lao động, thƣờng gây biến chứng cấp tính và mạn tính, gây tử vong hoặc tàn tật. Do vậy, việc phát hiện sớm để đề phòng biến chứng là rất quan trọng[5].Định nghĩa bệnh đái tháo đƣờng Đái tháo đƣờng là tình trạng tăng đƣờng huyết mạn tính, khởi phát do yếu tố di truyền và ngoại lai phối hợp. Đƣờng huyết gia tăng là hậu quả do thiếu insulin hoặc do đề kháng insulin.Sinh lý học và bệnh sinh Glucose máu đƣợc cân bằng trong cơ thể và xuất sứ t hai nguồn, đó là nguồn gốc ngoại sinh (chuyển hóa các carbohydrat do thức ăn cung cấp), sau khi ăn các thức ăn, tinh bột đƣợc amylase của nƣớc bọt và tụy thủy phân, trái lại các disaccharid đƣợc enzym disaccharidase của ruột phân hủy. Quá trình này dẫn tới hấp thu glucose qua đƣờng tiêu hóa và sau đó chất này kích thích các tế bào bêta của đảo Langerhans bài xuất insulin.
Với nguồn gốc nội sinh (chuyển đổi glycogen thành glucose), theo nhu cầu và dƣới tác động của một số hormon nhƣ glucagon, adrenalin, cortisol và hormon tăng trƣởng, một số cơ quan, đặc biệt là gan nhờ quá trình phân hủy và tân tạo glycogen có khả năng đƣa vào tuần hoàn glucose t các thành phần chuyển hóa nhƣ glycogen, pyruvat, lactat, glycerol và các acid amin. Bình thƣờng cơ chế điều hòa nồng độ glucose máu chịu tác động của hai hệ thống hormon đối lập nhau đó là, insulin có tác dụng làm hạ glucose máu nhƣng glucagon, adrenalin, cortisol,.có tác dụng làm tăng nồng độ glucose máu. Thiếu insulin hoạt động là kết quả của việc tiết insulin không đầy đủ hoặc giảm phản ứng của mô đối với insulin tại một hoặc nhiều điểm trong con đƣờng hoạt động phức tạp của hormone. Do vậy, khi bị rối loạn nồng độ glucose trong máu, đƣờng huyết sẽ Thang Long University Library 4 cao hơn bình thƣờng.
Bệnh sinh trong bệnh đái tháo đƣờng type 1: Khởi đầu là glucose không đƣợc insulin hỗ trợ để qua đƣợc màng tế bào vào bên trong, thiếu insulin gan tăng cƣờng thoái hóa glycogen và mỡ tăng huy động, cộng với giảm tổng hợp lipid dẫn đến hậu quả tế bào thiếu năng lƣợng, gây cảm giác đói thƣờng xuyên (ăn nhiều). Nồng độ glucose tăng trong máu, làm tăng áp lực th m thấu ngoại bào, kéo nƣớc trong tế bào tạo cảm giác khát (uống nhiều). Glucose máu cao gây quá ngƣỡng thận, nƣớc tiểu có đƣờng gây đa niệu th m thấu (đái nhiều). Lƣợng glucose mất theo nƣớc tiểu thƣờng rất lớn, cơ thể thiếu năng lƣợng phải huy động lipid và protid bù đắp làm ngƣời bệnh gầy.
Bệnh sinh của đái tháo đƣờng type 2: Không phải do tổn thƣơng tuyến tụy mà thƣờng do ƣu năng một số tuyển nội tiết khác (thuỳ trƣớc tuyến yên, tuyến giáp, tuyến thƣợng thận), bệnh xuất hiện muộn (ở ngƣời cao tuổi)[36], bệnh không liên quan đến miễn dịch, vai trò cùa các yếu tố di truyền không rõ ràng, nồng độ insulin trong máu có thể bình thƣờng giảm hay tăng. Phần lớn bệnh nhân mắc chứng đái tháo đƣờng type 2 và tỷ lệ ngƣời bệnh tăng cao liên quan trực tiếp với cách sống của cuộc sống hiện nay. Đó là cuộc sống ít hoạt động theo phong cách công sở và chế độ ăn uống không phù hợp[20].Dịch tễ học bệnh Đái tháo đƣờng. Bệnh đái tháo đƣờng đã trở thành nguyên nhân phổ biến nhất ở Mỹ và Châu Âu; đặc biệt là tiểu đƣờng type 2, đang ngày càng phổ biến.Ở một số nƣớc, số ngƣời mắc căn bệnh này chiếm tỷ lệ tới 10% dân, số ngƣời mắc bệnh ngày một tăng cao.
Nguyên nhân chính dẫn tới sự bùng nổ của bệnh đái tháo đƣờng là do cách sống thời đại ngày nay[8]. Nhƣng nhiều ngƣời mắc bệnh tiểu đƣờng vẫn không đƣợc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe và thuốc (bao gồm cả insulin) cần thiết để duy trì sự sống, điều này có thể đại diện cho những vấn đề cấp bách hơn cần giải quyết[46]. Vì vậy ADA 2016 nêu lên tiêu chu n 8 lĩnh vực quan trọng đối với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu: ch n đoán, mục tiêu đƣờng huyết, quản lý y tế, hạ đƣờng huyết, quản lý yếu tố nguy cơ tim mạch, tầm soát và quản lý bệnh vi mạch và quản lý bệnh nhân tiểu đƣờng nội trú[40]. Ở Việt nam, qua số liệu thống kê một số Bệnh viện lớn cho thấy bệnh 5 ĐTĐ là bệnh thƣờng gặp nhất và có tỷ lệ tử vong cao nhất trong các bệnh nội tiết.
Tỷ lệ bệnh ĐTĐ nằm điều trị tăng dần t năm này qua năm khác. Cho nên đã có rất nhiều những nghiên cứu về bệnh ĐTĐ cả trên thế giới lẫn trong nƣớc. Đặc biệt là: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về kiểm soát bệnh và biến chứng đái tháo đƣờng, đƣợc công bố năm 1993 và nghiên cứu UKPDS (đƣợc công bố năm 1998) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho điều trị bệnh đái tháo đƣờng, đó là kỷ nguyên của sự kết hợp y tế chuyên sâu và y học dự phòng, dự phòng cả về lĩnh vực hạn chế sự xuất hiện và phát triển bệnh[2]. Đây thực sự là khoảng trống lớn về sự chênh lệch giữa nhu cầu và cung cấp dịch vụ chăm sóc phòng ng a biến chứng, chăm sóc sức khỏe bàn chân[22].
Theo Liên đoàn Đái tháo đƣờng Quốc tế, chi phí liên quan đến bệnh đái tháo đƣờng ở Việt Nam trung bình là 162,7 USD/ bệnh nhân/ năm. Vấn đề kiểm soát đƣờng huyết kém có liên quan trực tiếp đến tổng chi phí chăm sóc sức khỏe. Các chiến lƣợc phòng ng a và kiểm soát tốt đƣờng huyết ở những ngƣời mắc bệnh ĐTĐ type 2 có thể làm giảm tác động kinh tế liên quan đến bệnh[51]. Dịch tễ học, sinh lý bệnh có những cân nhắc về phát triển và đáp ứng với liệu pháp điều trị ở bệnh ĐTĐ khởi phát ở trẻ em khác với bệnh ĐTĐ ở ngƣời lớn[35],[44].
Ngƣời lớn tuổi mắc bệnh ĐTĐ cũng có nguy cơ cao với một số hội chứng lão khoa phổ biến; chẳng hạn nhƣ đa não, suy giảm nhận thức, tiểu không kiểm soát, ngã do chấn thƣơng và đau dai dẳng. Những tình trạng này có thể ảnh hƣởng đến khả năng tự quản lý bệnh ĐTĐ của ngƣời lớn tuổi[14],[36]. Ở ngƣời lớn tuổi, bệnh đái tháo đƣờng kéo dài có ảnh hƣởng đáng kể đến tỷ lệ tử vong. Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 đang gia tăng ở ngƣời lớn dƣới 45 tuổi.
Bệnh ĐTĐ type 2 khởi phát ở độ tuổi trẻ hơn làm tăng nguy cơ mắc các biến chứng liên quan đến bệnh ĐTĐ[43]. Thanh niên trƣớc tuổi dậy thì có sự thay đổi glucose nhiều hơn không phụ thuộc vào HbA1C so với thanh niên dậy thì và sau dậy thì[47],[52],[53], [55].